Chủ đầu tư 19-12 đòi chỉ đạo báo chí ngừng xuyên tạc

Lâu lắm rồi không vào đọc tin tức ở bất cứ  một tờ báo nào cho dù là báo điện tử hay báo giấy. Tình cờ hôm nay được đọc bài này trên
tuần việt nam net, thấy có nhiều cái đáng để mọi người chia sẻ, tôi mạn phép mượn bài đó post lên đây để mọi người dễ dàng chia sẻ với nhau. Tuy nhiên rất tiếc cho những người nào dùng mạng của nhà cung cấp VDC thì sẽ khó xem được. Bạn chia sẻ trực tiếp, mọi người thấy ngay khi bạn nhấn “Submit”

Đây là nội dung bài viết.

“Công ty TNHH Thủ đô II Kính đề nghị Bộ Thông tin Truyền thông và Cục báo chí: kiểm tra, xem xét và chỉ đạo dừng ngay nội dung xuyên tạc sai sự thật mà các báo đã đăng” – nội dung công văn của chủ đầu tư trung tâm thương mại 19 – 12 gửi đến cơ quan quản lý báo chí và VietNamNet ngày 17/12.

Dư luận đang “nóng” lên quanh dự án xây dựng khu trung tâm thương mại trên nền chợ 19-12 cũ. VietNamNet đã nhận được công văn của Công ty TNHH Thủ đô II kiến nghị về vấn đề này. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam đăng tải nguyên văn nội dung của công văn đã được gửi đến toà soạn ngày 17 tháng 12 năm 2008.

>> Không thể lẳng lặng cho thuê đất vàng với giá tượng trưng
>> Xây trung tâm thương mại 19-12: “Báo chí nói, chúng tôi mới biết”!
>> Hãy giữ những khoảng không quý giá còn lại của HN

Ảnh: Hoài Thanh

Kính gửi: – Bộ Thông tin Truyền thông
– Cục Báo Chí
– Thanh tra Bộ Thông tin Truyền thông

Công ty TNHH Thủ đô II, có địa chỉ tại 49 Phùng Hưng, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Được cấp giấy phép thành lập số 2134/GP-UB do UBND Thành phố Hà Nội cấp ngày 30/10/1995. Giấy phép ĐKKD số 048432 do Uỷ ban kế hoạch Thành phố Hà Nội cấp ngày 06/11/1995.

Chúng tôi xin trình bày với Quý Bộ thông tin Truyền thông và Cục báo chí: đề nghị Quý Cục báo chí – Bộ văn hoá thông tin giải quyết một việc như sau:

Công ty TNHH Thủ đô II được UBND Thành phố Hà Nội giao cho làm chủ đầu tư thực hiện dự án xây dựng “Tổ hợp Trung tâm thương mại – dịch vụ 19/12” tại chợ 19/12 cũ (thuộc địa bàn Phường Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà nội).

TIN LIÊN QUAN
Đường – nghĩa trang – chợ và siêu thị
Xây trung tâm thương mại 19-12: “Báo chí nói, chúng tôi mới biết”!
Tiểu thương chợ tạm 19-12 doạ quay lại nếu không xây trung tâm thương mại
Hãy giữ những khoảng không quý giá còn lại của HN
Ảnh hưởng môi trường của trung tâm thương mại 19-12 theo góc độ phong thủy

Dự án đã tuân thủ đầy đủ tính pháp lý và đã được UBND Thành phố cấp giấy chứng nhận đầu tư và chuẩn bị khởi công xây dựng, thì bị một số báo điện tử đã có thông tin sai lệch một chiều, không rõ ràng, thiếu hiểu biết về dự án xây dựng “Tổ hợp trung tâm thương mại – dịch vụ 19/12” mà cụ thể đăng tải nhiều nhất trên báo Tiền Phong, báo Điện tử VietNamNet và trên trang TuanVietNam.net đã đưa lên công chúng trong nhiều ngày qua.

Chúng tôi rất không đồng tình trước những thông tin chưa được xác định, chưa được kiểm chứng, không có nguồn gốc rõ ràng và trích dẫn những ý kiến phản hồi của một số người không có tên và địa chỉ rõ ràng, mà ngôn từ không đàng hoàng, lời nói thiếu suy nghĩ đã gây hiểu lầm trong dư luận bạn đọc, bôi nhọ doanh nghiệp chúng tôi, gây thiệt hại uy tín của doanh nghiệp nói riêng và gây nên sự phẫn nộ cho các hộ dân kinh doanh tại chợ 19/12 cũ nói chung.

Phải chăng, đây chính là kẽ hở trong quản lý mạng báo chí, để một số phần tử tiêu cực, lợi dụng tự do báo chí để có những luận điệu xuyên tạc đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội.

Bằng công văn này, Công ty TNHH Thủ đô II Kính đề nghị Bộ Thông tin Truyền thông và Cục báo chí: kiểm tra, xem xét và chỉ đạo dừng ngay nội dung xuyên tạc sai sự thật mà các báo đã đăng. Chúng tôi có đầy đủ tài liệu hợp pháp và sẵn sàng cung cấp cho các cơ quan báo chí đến tìm hiểu, làm việc nghiêm túc với Công ty chúng tôi.

Xin trân trọng cảm ơn.

T/M BAN GIÁM ĐỐC
Giám Đốc

Phần dưới là nhận xét của một số bạn đọc

Họ và tên: Lê Mai Hoàng
Địa chỉ:
Email: maihoang75@yahoo.com

Báo chí (đúng theo nghĩa chân chính của nó) là tiếng nói của nhân dân. Cấm báo chí là vi phạm pháp luật và quyền tự do báo chí như hiến pháp đã ban hành.

Họ và tên: van thanh
Địa chỉ: hn
Email: vanthanh@yahoo.com

Đừng vu khống . Ông nói ai là phần tử tiêu cực? Ông nói việc giao chợ tạm cho công ty ông làm dự án là hợp pháp thì dự án đó có thông qua HDND Thành phố hay không? Có công khai minh bạch đấu thầu không? Tại sao ông lại tài thế khi thuê được hơn 3000m2 đất vàng giữa thành phố mà giá thuê một tháng trên một mét vuông không đủ mua một mớ rau muống trong đợt lụt vừa qua? Hành động đó là gì?

Họ và tên: Minh Hải
Địa chỉ: Hà Nội
Email:

Là một công dân,chỗ nào báo chí đưa tin sai ông GĐ Cường có thể chỉ cho độc giả biết,vì mọi ý kiến đưa trên báo các tác giả cũng chỉ muốn Hà Nội đẹp hơn. Ông không nên nghĩ họ là những kẻ phá hoại, thông tin càn đa chiều thì càng tốt chứ.

Họ và tên: Huutien
Địa chỉ: ThanhCong HaNoi
Email: tienhuu@sbv.gov.vn

Dù nói theo cách nào thì địa danh 19/12 trên đường Hai Bà Trưng Hà nội mãi mãi là địa danh thiêng liêng, hiện là địa chỉ nhậy cảm đối với Thủ đô Hà Nội trước thềm Đại lễ 1000 năm Thăng Long. Những ngày qua nhiều trang báo đưa tin về việc xây dưng trung tâm thương mại tại địa chỉ trên cũng đều chung một suy nghĩ:”hãy thận trọng khi đụng đến lô đất này trên nhiều giác độ về truyên thống lịch sử, về văn hoá tâm linh cũng như về thực tế”. Theo suy nghĩ của tôi thì Công ty xây dựng Thủ độ II hãy bình tâm và nhìn nhận việc xây dựng của mình tại trung tâm thương mại tại địa chỉ 19/12 ở một tầm cao hơn lợi ích kinh tế thuần tuý và công đồng trách nhiệm với Chính phủ, với hàng triệu người dân thủ đô để có ý kiến chính thức thì chắc sẽ hay hơn nhiều. Trân trọng !

Họ và tên: tran nam
Địa chỉ: Hanoi
Email: hiduk01@yahoo.com

Chúng tôi nghĩ rằng qua vụ này danh tiếng của Thủ Đô II đã vang khắp cả nước rồi, chứ trước đây có ai biết doanh nghiệp này là như thế nào đâu, rồi tới đây có khi dư luận sẽ còn được biết làm sao doanh nghiệp vô danh như TĐ2 lại được UBND thành phố giao cho một dự án làm sững sờ cả nước như thế? Có lẽ sẽ rất thú vị khi biết danh tính các cổ đông của TĐ2 đấy.

Họ và tên: Nhật Long
Địa chỉ:
Email: long555@gmai.com

Tôi xin hỏi chủ đầu tư một câu hỏi thế này thôi. Có thực sự tất cả các quy trình thủ tục để tiến hành dự án này đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục và minh bạch hay không?

Họ và tên: Tuấn
Địa chỉ: Hà Nội
Email: chi_thoi_84@yahoo.com

Ông Cường có quyền gửi những thông tin mà ông cho là báo chí đã sai trái cho các cấp lãnh đạo.Nếu ông đúng thì tôi và các bạn đọc khác cũng không phải là những người thiếu hiểu biết để không phân biệt nổi đúng sai.
Chỉ với 1 cái giấy kiến nghị cùng lời lẽ chung chung mà ông cũng muốn báo chí dừng lại. Tôi nghĩ ông đi quá xa rồi.

Báo chí là tiếng nói của nhân dân. Việt Nam đang trên con đường phát triển quyền tự do thì ông Cường hay bất cứ ai cũng không có quyền cấm báo chí nói lên ý kiến của người dân cả.

Tôi nghĩ tất cả những gì ông Cường hy vọng là việc cả vú lấp miệng em. Nhưng người dân Hà Nội nói riêng và dân cả nước nói chung sẽ không dễ dàng để ông làm được như vậy đâu.

Họ và tên: Nguyễn Mạnh Hùng
Địa chỉ: Hàng Bông – Hà Nội
Email: manhhung_4282@yahoo.com

Tôi thấy việc xây dựng Trung tâm thương mại và dịch tại chợ tạm 19/12 cũ là không cần thiết. Nó chỉ có lợi cho một số cá nhân. Nếu TP giải toả chợ thì nên trả lại con đường 19/12.

Họ và tên: Trần Lê
Địa chỉ:
Email: phich.gsc@gmail.com

Bái phục ông Giám đốc Cường. Ông vận động thế nào để được thực hiện dự án trên mảnh đất đẹp vậy, với giá thuê cũng rất đẹp như vậy. Rất mong ông cùng chia sẻ kinh nghiệm để doanh nghiệp chúng tôi học hỏi. Xin trân thành cảm ơn ông.

Họ và tên: Quang Vu Minh
Địa chỉ:
Email: quangvminh@yahoo.com.vn

Vị trí chợ 19/12 hiện tại, chưa cần nói đến vấn đề ý nghĩa lịch sử, tâm linh của nó… cũng là vị trí đặc biệt trong bộ mặt thủ đô, cần được giải quyết thấu đáo bằng quy hoạch, thiết kế đô thị.
Tôi không biết HN đã làm như thế nào đối với dự án này. Nghe chừng chưa được minh bạch lắm. Tôi có dịp đi một số nước, thấy đối với mỗi vị trí đắc địa như thế, xây dựng gì, thiết kế ra sao đều được đưa ra hỏi ý kiến cộng đồng bằng phương tiện thích hợp. Tôi đã chứng kiến tận mắt, tại Singapore, khi sửa chữa toà nhà (tôi k nhớ tên) trên phố Orchard, cạnh toà nhà Takashimaya, cơ quan quy hoạch còn phát tờ rơi ngay tại phố để xin ý kiến về một thiết kế của toà nhà. Nước ngoài họ đã làm như vậy, còn ta thì nay mới biết có Cty nọ, kia đã tham gia làm dự án…
Đặt tên một đường phố còn phải có ý kiến của HDND thành phố, huống chi, dự án này đâu phải chỉ là đặt tên đường. Cái ông gì giám đốc Cty phát biểu như vậy, nghe ra, không hiểu nhiều về đô thị lắm, càng không thể hiện thái độ cầu thị, rất không nên.

Họ và tên:
Địa chỉ:
Email: ngchaugiang@yahoo.com

May mà Vietnamnet đưa tin thì người dân mới biết. Nếu không thì doanh nghiệp của ông đã đút túi tiền tỷ trên dự án này và HN lại mất một di tích lịch sử tiêu biểu cho lòng yêu nước của người dân Hà Nội. Xin đừng “kêu oan” nữa.
Là người thường xuyên đọc báo, tôi nhận thấy Vietnamnet là một trong những tờ báo hay, có nhiều thông tin đắt giá được dư luận quan tâm. Xin hãy tiếp tục đưa những thông tin có giá trị đến bạn đọc. Đừng là tờ báo có nội dung lờ nhờ, đọc để giải trí mà không đọc cũng chẳng sao.

Họ và tên:
Địa chỉ:
Email:

Rất xin lỗi bạn! Có lẽ cái sai hay đúng và như bạn nói phải là chính quyền của Hà Thành lên tiếng. Xin có 3 câu hỏi cho chính quyền TP Hà nội.

1-Cơ sở pháp lý để xây dựng dự án có tính, tầm cho Thủ đô hay không? Nếu có thì có căn cứ thực tế ở đâu?

2-Sau khi đọc thông tin thì dự án này không minh bạch. Minh bạch ở chỗ nào xin 2 ông Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch Thành phố hãy trả lời cho mọi người nghe.

3- Đất nước này vô cùng vì đất nước- để quốc gia có 1 biểu tượng, có một trung tâm về văn hoá , xã hội đã đồng ý mở rộng Thủ đô, sau khi mở rộng- Việt Nam đã có một thủ đô ngang tầm thế giới về DIỆN TÍCH ? nhưng chất lượng xin hãy đợi thời gian.

Cũng vì dự án nhập nhằng giữa thời điểm chưa mở rộng thủ đô. Nên cũng sẽ không nằm trong tổng thể mới. Giải quyết an dân (theo đơn 500 hộ TT) không khó. Để 4000 năm lịch sử + thêm 78 năm CMXHCN và chắc chắn sẽ thêm…..năm là tương lai)

Theo tôi TP nên bồi thường các khoản do đã cấp phép, vì do tính biến động lịch sử(mở rộng TP HN) xây dựng dự án mới để cho các hộ TT có công ăn việc Làm. Còn khu đó nên chỉ làm đường, khu vui chơi- khu tưởng niệm theo lịch sử.

Họ và tên: Nguyễn Gia Hảo
Địa chỉ: 48/12 Đặng Thái Mai, Tây hồ Hà nôi
Email: ngiahao@gmail.com

Kinh gửi Ông Nguyễn Anh Cường, Giám đốc Cty TNHH Thủ đô II

Tôi cảm ơn báo chí đã nêu ra vấn đề này thì người dân mới biết rằng lãnh đạo TP Hà nội đã giao cho Quý Cty xây dựng trung tâm thương mại trên khu đất chơ 19-12, một điạ danh gắn bó nhiều với người dân Hà nội từ lịch sử của cuộc Kháng chiến thần thánh bảo vệ Thủ đô. Tôi cũng cảm ơn bức thư của ông gửi lên Bộ Văn hoá Thông tin yêu cầu can thiệp không để bảo chí và một số người “xuyên tạc” làm ảnh hưởng tới uy tín của Quý Cty trước sự “ưu ái ” của UBND TP Hà nội đối với Quý Cty.

Mong Ông hay thông cảm cho tấm lòng của những người Hà nội và những ai đã và đang gắn bó với Hà nội vì Hà nội là của cả nước và cả nước cũng có trách nhiệm với Hà nội, muốn Hà nội luôn xanh,sạch và đẹp (kể cả không có những công trình “rác rưởi”, chướng mắt..).

Để rộng đường cho dư luận mong Ông cho biết Quý Cty được giao mảnh đất này trong hoàn cảnh nào? Theo ông, giao như vậy có đúng luật không? Giá cả mà báo chí phản ảnh có đúng không? Và, nếu không vì lý do tế nhị, Quý Cty có thể cho biết ai là người đã thay mặt UBND TP ký quyết định giao cho Ông mảnh đất này?

Xin cảm ơn Ông,

Họ và tên: hoa
Địa chỉ: 42 nguyễn khuyến tp quảng ngãi quãng ngãi
Email: sunrise@yahoo.com

Tôi không đồng tình với ý kiến của Cty TNHH Thu đô II. Các ông có bao giờ hiểu về lịch sử của Thủ đô chưa? Tại sao gọi Hà Nội là đất ngàn năm văn hiến?

Họ và tên:
Địa chỉ:
Email: nhatlong@yahoo.com

Là một người ở gần chợ 19-12, tôi ủng hộ việc dừng lại ngay dự án xây toà nhà cao tầng tại khu đất trên và trả lại con đường 19-12 như trước những năm 80. Sự việc đã rõ rành rành, tất cả những độc giả và người dân ở Hà Nội nói riêng và trên khắp nước Việt Nam nói chung nếu được hỏi ý kiến thì tôi cam đoan rằng sẽ không ai ủng hộ dự án này cả, trừ một bộ phận thiểu số có lợi ích trực tiếp việc bỏ phố xây TTTM cả.

Toá án tối cao là nơi tôn nghiêm như vậy, hiện tại đã bị 4 toà tháp, 2 toà ở Hà Nội Tower và Melia bao vây rồi, giờ lại mọc thêm 2 toà tháp nữa mà lại đè thẳng vào toà án tối cao thì thật sự không thể chấp nhận nổi. Chưa kể cứ đến giờ tan tầm, đoạn đường Hai Bà Trưng, Hoả Lò, Quán Sứ mật độ phương tiện giao thông qua lại rất lớn, hay xảy ra ùn tắc cục bộ, nếu mở lại đường 19-12 thông sang Lí Thường Kiệt ít nhiều sẽ làm giao thông thoáng đãng hơn và giảm tải rất nhiều cho khu vực này.

Là một người dân sông ở khu vực này tôi kiên quyết phản đối việc xây TTTM. Tôi mong chính quyền thành phố cho dừng dự án này lại, đừng vì cái lợi trước mắt mà đánh mất cái lợi lâu dài, mất lòng tin của nhân dân.

Họ và tên: tranngocthanh
Địa chỉ: tranngocthanh@yaoo.com
Email:

Tôi thấy Vietnamnet là tờ báo đáng tin cậy. Tôi ngày nào cũng xem và nếu không được đọc Vietnamnet thấy tôi như lạc hậu lắm rồi. Bản tin về TTTM 12/9 đang đựơc cộng đồng Việt Nam theo dõi và ủng hộ. Tôi là người không hiểu về lịch sử Hà Nội nhưng nếu mất một di tích lịch sử ở HN là có tội với đất nước lắm chúng ta là người Việt Nam yêu nước chúng ta phải có trách nhiệm với Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến.

Chỉ vì một trung tâm thưong mại mà mất đi lịc sử thủ đô hào hùng thì đừng nên làm.

Họ và tên: Co Tran
Địa chỉ:
Email: tranminhcous@yahoo.com

Tôi được đọc những thông tin nhiều chiều mà báo đã đăng, tôi thấy những lời lẽ trong Công văn của Công ty Thủ Đô II và đơn thư của Bà Nguyễn Thị Thịnh có nhiều từ ngữ thiếu thiện cảm, kém văn hóa nếu không nói là thể hiện sự hằn học đối với những ý kiến có thể làm thiệt hại đến lợi ích của một nhóm người.

Cảm ơn Báo đã thông tin để chúng tôi biết. Tôi gửi tới báo vài dòng suy nghĩ của cá nhân tôi, người rất yêu Hà Nội.

Sinh ra và lớn lên, sống tại Hà Nội đã gần 50 năm, tôi thấy cách mà người ta muốn thay đổi, biến những không gian, quy hoạch kiến trúc rất đẹp, thơ mộng, rất riêng của Hà Nội thành những trung tâm thương mại,….có gì đó xuất phát từ lợi ích cá nhân của một nhóm người chứ không vì lợi ích cộng đồng người Hà Nội nói riêng và cả người dân Việt Nam nói chung , ví dụ như việc định biến một phần Công viên Thống Nhất (khát vọng thống nhất của cả dân tộc thời kỳ những năm 50, 60,70) thành trung tâm thương mại.

Nếu tiếp tục như vậy, tương lai rồi sẽ chẳng còn gì để chúng ta nhắc lại với con cháu những trang sử hào hùng nhưng đẫm máu và nước mắt của dân tộc.

Không thể nói một cách coi rẻ điều tín nghĩa, vô cảm “ Nền chợ 19/12 là nghĩa địa chôn người chết từ những năm 1946, người chết nơi đây bao gồn cả ta, cả tây, người dân, quân nhân, nhân sĩ ” để lý giải cho việc xóa đi một nhân chứng của lịch sử (dù chưa được công nhận di tích lịch sử). Nếu cứ với luồng suy nghĩ như vậy thì việc trong tương lai sẽ san bằng, xóa đi gò Đống Đa lịch sử để làm trung tâm thương mại hay gì gì…. là việc đương nhiên cần làm vì ở đó chôn toàn ngưòi đi xâm luợc.

Thiết nghĩ, dù sinh ra và lớn lên ở Hà Nội hay ở đâu, NGƯƠI có những quyết sách về Hà Nội hãy có cách nhìn, cách suy nghĩ vì một Thủ đô sắp 1000 năm tuổi của 1 nước Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử anh hùng.

Họ và tên: Ẩn danh
Địa chỉ: Hà Nội
Email:

Theo tôi, hãy xem lại bài mà Nhà sử học Dương Trung Quốc gửi cho Kiến trúc sư, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội. Còn ông GĐ Công ty TNHH thủ đô II cứ nói có đầy đủ pháp lý ? Pháp lý gì ? Công ty vừa mới thành lập năm 1995. Thử hỏi pháp lý của Công ty ? làm ăn thế nào ? nguồn vốn ra làm sao ? hay có 01 ai đứngt dựa lưng phía sau Công ty này không mà to miệng gửi văn bản lên Bộ Thông tin và Truyền thông ? theo tôi mỹ quan của một Thủ đô rất là quan trọng và chuẩn bị 1000 năm kinh đô Thăng Long, làm sao để xứng đáng là con rồng, cháu tiên. Làm cho Thủ đô ngày càng to đẹp, đàng hoàng xứng đáng với Thủ đô ngàn năm văn hiến, mỗi 01 con người cần phải có 01 tiếng nói, có 01 việc làm cụ thể thiết thực.

Họ và tên: Phương Nam
Địa chỉ: Hà Nội
Email:

Tôi phản đối việc xây dựng Trung tâm thương mại tại chợ tạm 19/12.
Tôi rất cám ơn báo điện tử VietnamNet, trang tuanvietnam, và các báo đã đưa tin để người dân chúng tôi được biết về dự án này. Chắc ông giám đốc CTy TĐ2 cũng thừa biết rằng: báo chí và những người dân phản đối dự án xây TTTM không hề có quyền lợi liên quan đến dự án. Chúng tôi phản đối vì chúng tôi không thể chấp nhận một dự án chỉ tính đến lợi ích kinh tế cho một số người mà bất chấp tất cả các giá trị kiến trúc, văn hóa và đạo đức của cả một dân tộc.
Tôi thấy chưa thể an tâm gì được với “sự tiếp thu các ý kiến” của lãnh đạo UBND TP. Hà Nội. Tôi mong chờ câu trả lời cuối cùng từ UBND TP.
Mong lãnh đạo TP. rút kinh nghiệm, đừng “mạnh dạn” ký duyệt những dự án như thế này trước khi trưng cầu ý kiến của nhân dân.

Họ và tên: Nguyễn
Địa chỉ: Phú Thành
Email: pth1996@gmail.com

Kính thưa ông Nguyễn Anh Cương,

Các cụ đã có câu “Cây ngay không sợ chết đứng”. Nếu chiểu theo nội dung công văn mà ông đã gửi, tôi thiết nghĩ ông nên gửi tiếp những chứng cứ, tài liệu mà ông cho rằng báo chí hay người dân đã đưa ra là không chính xác làm ảnh hưởng đến uy tín của công ty ông cũng như chứng minh công ty ông đã làm đúng.
Ở góc độ cá nhân, tôi thấy ông đã sai khi quay sang đổ lỗi cho báo chí và những người dân có ý kiến trái chiều với dự án mà các ông đã theo đuổi. Người đáng trách ở đây chính là các ông và những người đã phê duyệt dự án một cách vội vàng.
Nếu là một doanh nghiệp kinh doanh có đạo đức, không chỉ đặt tiền bạc và lợi nhuận lên hàng đầu thì tôi thiết nghĩ các ông nên xin rút lui khỏi dự án và đòi hỏi sự bồi thường về những tổn hại phát sinh do những quyết định sai lầm của những người phê duyệt dự án. Có lẽ mọi người sẽ hiểu và chia xẻ với các ông nhiều hơn vì có lẽ các ông cũng chỉ là nạn nhân của một quyết định vội vàng.
Nếu không đúng như vậy thì việc phải hứng chịu búa rìu dư luận như bây giờ âu cũng chỉ đơn giản là cái giá phải trả để có được lợi nhuận. Có lẽ ở cương vị là người điều hành doanh nghiệp ông sẽ phải biết rõ việc quản lý rủi ro trong kinh doanh hơn ai hết trước khi dấn thân vào một dự án nhạy cảm nhưng nhiều lợi nhuận như thế này.

Kính thư,
Phú Thành

Họ và tên: Nguyễn Văn Hoàng
Địa chỉ: Lê Bình Phường 4 Quận Tân Bình TP HCM
Email: nguyenvanhoangkd@yahoo.com.vn

Ông Cường Không có quyền phê phán báo chí. Báo chí đưa tin để: dân biết- dân bàn-dân làm -dân kiểm tra.

Họ và tên: Do Thi Thuan
Địa chỉ: Thanh Cong Ha Noi
Email: dt0754@yahoo.com

Tôi không phải là người Hà Nội gốc, nhưng đã, đang sinh sống, làm việc tại Hà Nội. Cả buổi chiều nay (18/12/2008) tôi đã ngồi đọc tất cả các ý kiến của các nhà khoa học có tên tuổi, có chuyên môn… tôi nghĩ không cần nói gì thêm nữa, các “bác” đã nói rất hay, rất đầy đủ rồi. Tôi chỉ có duy nhất 1 ý kiến : Đề nghị Lãnh đạo Thành phố Hà Nội cho dừng ngay việc xây TT thương mại tại đây và đường 19/12 trả lại là con đường 19/12 như cũ. Xin cảm ơn./.

Họ và tên:
Địa chỉ:
Email: vym@fpt.vn

Tôi đã đi qua nhiều nơi ở trong và ngoài nước, và thấy có những địa danh khiến mình phải dành những phút nghĩ suy, khi có dù chỉ một vài hàng chữ khắc trên đá nhắc khi xưa đã có các vụ hành quyết hoặc mồ chôn những nạn nhân chiến tranh: Bắc Quảng trị có nơi thờ nạn nhân của cuộc chiến năm 1972, và có đài tưởng niệm những người lính thuộc hai chiến tuyến tại thành cổ Quảng trị, nhà giam Hoả Lò vẫn còn một phần để các đời sau không quên quá khứ đau thương; tại sao lại biến chợ 19/12 thành một trung tâm thương mại ?

Họ và tên: nguyễn ngọc quang
Địa chỉ: 40 tổ 22B phường Minh Khai
Email: quangbkhn@gmail.com

Tôi chẳng thể hiểu nổi ông Cường bị ai xui khiến mà lại đi xúc phạm những người đã bỏ thời gian và tâm huyết cho thủ đô thế này đây : “Chúng tôi rất không đồng tình trước những thông tin chưa được xác định, chưa được kiểm chứng, không có nguồn gốc rõ ràng và trích dẫn những ý kiến phản hồi của một số người không có tên và địa chỉ rõ ràng, mà ngôn từ không đàng hoàng, lời nói thiếu suy nghĩ đã gây hiểu lầm trong dư luận bạn đọc, bôi nhọ doanh nghiệp chúng tôi, gây thiệt hại uy tín của doanh nghiệp nói riêng và gây nên sự phẫn nộ cho các hộ dân kinh doanh tại chợ 19/12 cũ nói chung” . Tôi xin hỏi ông có học vị học hàm về chuyên nghành gì? bao nhiêu năm kinh nghiệm? đã có bài viết nào suy ngẫm cho thủ đô và đất nước

Họ và tên: thanh hải
Địa chỉ: Hà nội
Email: khidemve1911@yahoo.com

Không thể để cho những kẻ quên đi lịch sử trục lợi cá nhân được! cần xây dựng 1 tưọng đài tưởng niệm để con cháu sau nay còn biết cha ông chúng anh hùng như thế nào!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

Họ và tên: Vũ Quỳnh
Địa chỉ: 32 Trần Duy Hưng
Email: hiepnguyenkts@yahoo.com

Ông Nguyễn Anh Cường có biết rằng, Báo chí chỉ đưa ý kiến của người dân, đó là Suy nghĩ của người dân, chứ không phải là “thông tin sai lệch một chiều, không rõ ràng, thiếu hiểu biết về dự án xây dựng “Tổ hợp trung tâm thương mại – dịch vụ 19/12”.

Hãy học cách lắng nghe tiếng nói Nhân dân.

Ứng dụng 2.0 nào không thể thiếu với bạn?

Mike Arrington vừa công bố danh sách các ứng dụng web 2.0 mà ông “couldn’t live without” trong năm 2008:

Trong danh sách trên, ngoài một vài cái quá đặc thù và các web nghe nhạc trực tuyến, tôi dùng hầu hết các ứng dụng đã được nhắc tới. Trong số này tôi có vài nhận xét:

  1. del.icio.us là site bookmark hàng đầu, tôi đang dùng một plugin của Firefox để giúp bookmark các bài viết ưa thích nhanh hơn. Điều phiền toái duy nhất là cách tag theo từ, chứ không phải cụm từ làm cho danh mục bị phân mảnh và khó tìm được bài lưu trữ. Ngoài ra, nhiều trang web đã biến mất sau một thời gian.

  2. Digg chủ yếu để theo dõi các tin nóng. Nhưng đa số là tin “made in USA” nên nhiều khi khá vô bổ.

  3. Firefox: Khỏi cần nói, tôi dùng Firefox làm trình duyệt mặc định với hàng chục plugin. Đây chính ứng dụng mà tôi “couldn’t live without”. Tuy nhiên có lẽ do overuse trình duyệt này nên nó chiếm RAM kinh khủng. Disclosure: gần hơn 70% người truy cập vào blog này dùng Firefox.

  4. Flickr: Tôi không dùng ứng dụng này nhiều do ít có hứng thú chụp hình, chủ yếu để lưu trữ hình của gia đình.

  5. Gmail: Sure, đây là ứng dụng mail cách mạng.

  6. Google Reader: Tôi không khoái trình đọc RSS này lắm vì nó hơi thô sơ. Tôi dùng FeedReady!

  7. Netvibes: Tôi là fan của Netvibes, với hàng ngàn plugin đây là trang chủ trên cả tuyệt vời.

  8. TechMeme: Trang web nên đọc hàng ngày cho dân sính công nghệ.

  9. Technorati: Tôi dùng nó chủ yếu để xem xếp hạng blog.

  10. WordPress: Tất nhiên đây là ứng dụng không thể thiếu vì blog này làm trên WordPress. Nhiều plugin của WordPress rất có giá trị nhưng đôi khi phải mất khá nhiều thời gian mới dùng được.

  11. YouTube: Quá chậm nếu xem từ Việt Nam. Tôi thích Clip.vn hơn.

  12. Zoho: Tôi ít dùng Zoho vì nó hơi chậm so với Google Docs.

Tôi vẫn chưa dùng Twitter, không biết có ứng dụng nào tương tự ở Việt Nam chưa? Còn những ứng dụng 2.0 mà bạn không thể thiếu là gì?

Theo http://www.web2vietnam.com

Con đường mới (5)

Phần V. Khuyến nghị chính sách


VI. Điều kiện tiên quyết: Quyết tâm chính trị

Phân tích ở phần trên cho thấy quỹ đạo phát triển của Việt Nam gần giống với quỹ đạo của các nước Đông Nam Á hơn là các nước Đông Á. Sự thực là trong một số khía cạnh nhất định, Việt Nam thậm chí còn đang tiến gần tới vết xe đổ của các nước Đông Á và Đông Nam Á trước thời kỳ khủng hoảng 1997-1998 và của Trung Quốc hiện nay. Các nhà lãnh đạo của Việt Nam cần nhìn nhận những xu thế này như những lời cảnh báo cấp thiết về nhu cầu phải có những thay đổi chính sách thực sự. Mặc dù có những tín hiệu không khả quan nhưng điều đó không có nghĩa là quỹ đạo phát triển của Việt Nam trong tương lai là một điều gì đó có tính “định mệnh”, không thể thay đổi được. Việt Nam có nhiều thuận lợi so với Thái-lan, In-đô-nê-xia, Phi-líp-pin, trong số những thuận lợi này phải kể đến tính gắn kết xã hội cao và truyền thống văn hóa mạnh mẽ, trong đó bao gồm cả tính hiếu học và tinh thần chuộng cái mới. Việt Nam không bị chia rẽ vì những lý do dân tộc hay tôn giáo mà nhiều nước Đông Nam Á là nạn nhân. Với những thuận lợi to lớn này, có lẽ hơn ai hết, Việt Nam ở vị thế có thể tự kiểm soát được vận mệnh kinh tế của mình.

Một trong những nhận định của bài phân tích này là những chính sách Việt Nam cần thực hiện trong thời gian tới đã trở nên tương đối rõ ràng. Nhiều nước đi trước cũng đã từng gặp phải những thách thức của Việt Nam hiện nay, và điều đó có nghĩa là, bài học từ sự thành công hay thất bại của những nước này sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho Việt Nam. Rõ ràng là rào cản lớn nhất trên con đường phát triển của Việt Nam và các nước Đông Nam Á không phải là những khó khăn mang tính kỹ thuật, mà là quyết tâm chính trị. Chính sách đất đai là một ví dụ cụ thể. Nhà nước có thể sử dụng thuế bất động sản để chống đầu cơ, giảm giá đất, đồng thời tăng ngân sách quốc gia. Thế nhưng đến thời điểm này, Luật thuế bất động sản sau một số lần bị trì hoãn nay mới được đưa vào trong danh mục dự kiến xây dựng luật của Quốc hội Khoá XII. (Một câu hỏi nổi lên là những đại biểu dân cử trong Quốc hội và những “đầy tớ của nhân dân” trong chính phủ đang phục vụ cho lợi ích của ai, vì rằng tất cả mọi người đều thấy rằng đầu cơ trên thị trường đất đai đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát, đồng thời nhà nước cũng đang cần bổ sung nguồn thu.) Nói một cách ngắn gọn, quyết tâm chính trị – được hiểu như là ý chí thực hiện bằng được những quyết sách tuy khó khăn về mặt chính trị nhờ có lợi cho quốc kế dân sinh – là chất xúc tác cần thiết cho cải cách ở Việt Nam.

Các nhà lãnh đạo của Việt Nam đã từng tạo được quyết tâm chính trị mạnh mẽ để thay đổi sức ỳ của nguyên trạng. Đại hội Đảng VI nhất trí về nhu cầu cấp bách phải cải cách kinh tế. Vào thời điểm đó, vượt qua khủng hoảng kinh tế và bảo vệ sự tồn vong của Đảng là nhiệm vụ quan trọng số một. Từ đó đến nay, nguy cơ của khủng hoảng đã dần bị đẩy lùi, trong khi đó một số nhóm đặc quyền đặc lợi đã dần được hình thành với những mục tiêu không phù hợp với mục tiêu chung của quốc gia về công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Sự đồng thuận về cải cách của năm 1986 không còn nữa. Có vẻ như việc xây dựng một sự đồng thuận mới để đẩy mạnh cải cách và tăng trưởng chỉ khả thi khi bóng dáng của khủng hoảng đang tới gần. Chính phủ trước hết phải tự nhận thức được yêu cầu tiếp tục cải cách, để từ đó có thêm ý chí và quyết tâm chống lại những lực lượng phản đối cải cách.

Bài viết này không có ý xem nhẹ việc cải thiện năng lực có tính kỹ thuật của chính phủ. Ngày nay, chính phủ đang gặp phải một sự thiếu hụt đáng lo ngại về nguồn nhân lực và đây là một vấn đề có tính hệ thống. Từ trước đến nay, những tiêu chuẩn không liên quan nhiều đến năng lực thực sự như lòng trung thành, thâm niên, lý lịch gia đình v.v. thường được sử dụng như là những căn cứ chủ yếu trong việc tuyển dụng và cất nhắc trong hệ thống nhà nước. Vì vậy, giới trẻ Việt Nam có một cảm nhận rõ ràng rằng hệ thống nhân sự của nhà nước không trọng dụng người tài. Những hiện tượng này rất phổ biến ở các nước Đông Nam Á, và hậu quả của chúng đối với sự phát triển kinh tế xã hội thì quả thực khó lường hết được. Trái lại, những hiện tượng này lại không thấy xuất hiện ở những nước Đông Á thành công nhất. Những nước này đều cố gắng sao cho những sinh viên xuất sắc nhất của các trường đại học luôn coi việc tiến thân trong hệ thống nhà nước là một trong những lựa chọn hàng đầu. Chính phủ những nước này tìm mọi cách để tuyển được người tài, sau đó trả họ một mức lương tương xứng với mức lương họ có thể nhận được ở các khu vực khác. Ở đây cũng vậy, cần có một quyết tâm chính trị mạnh mẽ để đoạn tuyệt với sức trì kéo của nguyên trạng.

Một số tên tuổi có uy tín ở Việt Nam, trong đó bao gồm Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Giáo sư Hoàng Tụy đã báo động về tình trạng tê liệt vai trò quản lý của nhà nước.66 Cả hai đều cho rằng các cơ quan của Đảng, của nhà nước, các cơ sở nghiên cứu khoa học và đào tạo đang đứng trước sự xâm thực của các nhóm lợi ích lợi dụng những cơ quan, tổ chức này để làm giàu cá nhân và bành trướng ảnh hưởng. Một số vụ việc được Thanh tra chính phủ dũng cảm đưa ra ánh sáng gần đây là những minh chứng thêm cho sự thoái hoá của hệ thống quản lý và hành chính nhà nước.67 Tình trạng này cho thấy, đe dọa lớn nhất của chính phủ đến từ sự thất bại của chính nó.

Con Đường mới(4)

Phần 4. Duy trì tăng trưởng bền vững và công bằng


V. Tình trạng “lưỡng thể”: Nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Để đạt được những mục tiêu phát triển đầy tham vọng của mình, nền kinh tế Việt Nam phải có khả năng tiếp tục tăng trưởng cao và công bằng trong vài thập kỷ tới. Kinh nghiệm phát triển của các nước trong khu vực cho thấy đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì trên thực tế, mới chỉ có một vài nước Đông Á thực hiện được điều này. Như được minh họa trong Hình 1, các nước Đông Nam Á, và tương tự như vậy, hầu hết các nước thu nhập trung bình trên thế giới thường tăng trưởng chậm lại sau khi vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình thấp. Vì vậy, các nhà lãnh đạo của Việt Nam cần tự hỏi: Làm thế nào để Việt Nam tiếp tục duy trì được nhịp độ tăng trưởng như hiện nay ?

Rõ ràng rằng, để có thể đạt được mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng trong những thập kỷ tới, việc đầu tiên cần làm là nhận dạng những khu vực có tiềm năng tăng trưởng cao nhất, sau đó tạo mọi điều kiện tốt nhất để các khu vực này tiếp tục phát triển. Phần IV này sẽ chỉ ra rằng khu vực FDI và dân doanh trong nước là “động cơ song đôi” của nền kinh tế Việt Nam. Đây là hai khu vực kinh tế có nhiều tiềm năng nhất trong việc giúp Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng một cách lâu dài. Thế nhưng chính phủ Việt Nam vẫn chưa thực sự tạo được điều kiện thuận lợi để hai khu vực này (đặc biệt là khu vực dân doanh trong nước) tiếp tục thành công. Thay vào đó, như phần này sẽ chứng minh, chính sách công nghiệp của Việt Nam lại luôn luôn ưu ái khu vực – mà theo tất cả những phân tích khách quan nhất – kém cạnh tranh nhất, tạo ít công ăn việc làm mới nhất, và có tốc độ tăng trưởng chậm nhất. Nếu như ví cuộc đua tranh kinh tế như một giải vô địch bóng đá thì chính sách này của nhà nước tựa như việc trong khi mục tiêu là “đoạt cúp vàng” thì huấn luyện viên lại chỉ cho ra sân những cầu thủ kém nhất của mình.

Trong vòng hai mươi năm qua, đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế Việt Nam là tình trạng “lưỡng thể”, hay nói một cách bóng bẩy – “một nền kinh tế – hai thể chế”. Đây là chiến lược nhằm duy trì địa vị thống trị của khu vực kinh tế nhà nước, đồng thời mở cửa cho đầu tư nước ngoài và cho phép sự trỗi dậy của khu vực dân doanh vô cùng năng động. Chiến lược “lưỡng thể” này có thể đã là điều cần thiết để đảm bảo sự ủng hộ về mặt chính trị cho cải cách. Theo nghĩa này, nó đã rất hiệu quả: hiện nay, khu vực dân doanh và đầu tư nước ngoài chiếm tới 90% tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam và là nguồn tạo ra hầu hết việc làm mới cho nền kinh tế.

1. Các nguồn tăng trưởng

Những ngành nào đang tạo ra tăng trưởng cho Việt Nam? Những ngành quan trọng nhất như công nghiệp chế tạo, sản xuất và phân phối điện, khí và nước, xây dựng, khách sạn, nhà hàng và một số dịch vụ khác đóng góp gần 75% tăng trưởng của Việt Nam. Từ năm 2000, công nghiệp chế tạo, sản xuất và phân phối điện, khí và nước, xây dựng chiếm tới 45% tăng trưởng thực, trong khi nông nghiệp và khai khoáng chỉ chiếm chưa tới 1/6 tăng trưởng thực. Thương mại, vận tải, tài chính giáo dục và y tế cũng có những đóng góp đáng kể (khoảng 26% trong tổng tăng trưởng sản lượng) . Hầu hết những ngành tăng trưởng nhanh này đều sử dụng lao động có kỹ năng và công nghệ cũng như vốn nước ngoài.

Lưu ý rằng việc một khu vực nào đó tăng trưởng chậm không có nghĩa là khu vực ấy không quan trọng. Duy trì được nhịp độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp sẽ làm cho quá trình đô thị hóa chậm lại, giúp cho tăng trưởng trở nên cân bằng hơn, và cải thiện tính bình đẳng giữa các vùng miền. Tốc độ di cư từ nông thôn ra thành thị chậm lại cũng giúp giải tỏa áp lực cho các đô thị, và điều này đến lượt nó giúp tăng cường sự ổn định xã hội.58 Bên cạnh đó, nông nghiệp cũng là một nguồn xuất khẩu và thu ngoại tệ quan trọng của Việt Nam. Tuy nhiên, khu vực công nghiệp và dịch vụ với tốc độ tăng trưởng cao hơn vẫn đóng góp nhiều hơn cho GDP.

2. Những xu thế chủ yếu

Có lẽ không ai nghi ngờ về đóng góp to lớn của FDI đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Bảng 1 cho thấy doanh thu của các doanh nghiệp nước ngoài tăng trung bình 30%/năm trong giai đoạn 2001-05 theo giá hiện hành (xuất khẩu ngoài dầu thô của các doanh nghiệp nước ngoài cũng tăng trung bình 26%/năm kể từ năm 2000).59 Thành tích đầy ấn tượng này của các doanh nghiệp FDI chỉ kém mỗi khu vực dân doanh trong nước. Giá trị sản xuất do khu vực này tạo ra đã tăng 4 lần (theo giá hiện hành) trong vòng 5 năm qua, tức là tốc độ tăng trưởng trung bình đạt khoảng 34%/năm. Tốc độ tăng trưởng của khu vực nhà nước tuy thấp nhất nhưng cũng rất khả quan, đạt mức 16%/năm theo giá hiện hành. Trong giai đoạn này, lạm phát dao động trong khoảng 5-7%.

Liệu các khu. vực tăng trưởng nhanh có duy trì được tốc độ tăng trưởng hay là chúng sắp “hết hơi”? Câu trả lời là khác nhau cho các loại hình sở hữu khác nhau. Khu vực nước ngoài là nơi hấp thụ phần lớn nguồn cung ứng lao động có kỹ năng và nguyên vật liệu thô của Việt Nam. Cũng như sản lượng dầu mỏ hiện nay đang giảm sút, nếu như nguồn cung lao động có kỹ năng bị cạn kiệt và không được “tiếp tế” kịp thời thì nhiều khả năng là tăng trưởng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ chậm lại. Tất nhiên là các doanh nghiệp nước ngoài có thể nhập khẩu lao động có kỹ năng từ bên ngoài, nhưng với chi phí cao hơn.60 Một hạn chế nữa của việc nhập khẩu lao động nước ngoài là nếu chẳng may vì một lý do nào đó nền kinh tế tăng trưởng chậm lại và hợp đồng lao động của người nước ngoài bị chấm dứt thì những lao động này sẽ về nước hay di chuyển đến một nước khác, để lại sau lưng rất ít kinh nghiệm và tri thức. Điều này đã xảy ra ở Thái -lan vào những năm 1990. Đào tạo lao động địa phương là một giải pháp khả dĩ thế nhưng việc này đòi hỏi phải có thời gian. Bên cạnh đó, lao động sau khi được đào tạo lại có thể bị các doanh nghiệp khác lấy mất. Chính vì những lý do này mà chính phủ cần hỗ trợ hay cho người lao động vay tiền để đầu tư phát triển kỹ năng. Trong khi dòng FDI vẫn tiếp tục chảy vào Việt Nam, chứng tỏ rằng quan tâm của các nhà đầu tu nước ngoài đối với Việt Nam thực sự sâu sắc và ngày một nhiều hơn thì cũng nên nhớ rằng sự bùng nổ FDI cũng đã từng xảy ra và chấm dứt ở nhiều nơi khác trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam cần rất tỉnh táo trước những điều kiện cần thiết để duy trì FDI, đặc biệt là trong việc cung cấp điện và lao động có kỹ năng. Hiện nay, ở cả hai lĩnh vực này Việt Nam đều đang thất bại.

Khu vực dân doanh lại gặp phải những vấn đề khác. Các doanh nghiệp dân doanh thường có quy mô nhỏ, hoạt động kinh doanh đơn giản, và khả năng có hạn trong việc tiếp cận thông tin thương mại và công nghệ. Bên cạnh đó, đất đai và tài chính là những khó khăn thường trực của nhiều doanh nghiệp dân doanh, mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam trong những năm qua luôn rất cao. Các doanh nghiệp dân doanh thường phàn nàn rằng ngân hàng thường chỉ cho họ vay ngắn hạn và ít khi đồng ý cho họ vay dài hạn. Trừ phi những vấn đề này được giải quyết, bằng không tốc độ tăng trưởng rất nhanh của khu vực dân doanh kể từ năm 2000 sẽ bị chậm lại vì cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ suy giảm, đồng thời chỉ có một số ít doanh nghiệp dân doanh có khả năng phát triển thành những doanh nghiệp lớn. Nếu các doanh nghiệp dân doanh không sớm trở thành những nhà cung ứng đáng tin cậy cho các doanh nghiệp FDI thì hệ quả có thể là tốc độ tăng trưởng của cả hai khu vực này đều bị suy giảm. Việc trở thành các nhà cung ứng tại chỗ cho các doanh nghiệp nước ngoài sẽ giúp các doanh nghiệp dân doanh nối kết được vào mạng lưới cung ứng toàn cầu, đồng thời có cơ hội được làm việc với những tiêu chuẩn chất lượng và môi trường kinh doanh quốc tế. Sự tồn tại của một mạng lưới dầy đặc các nhà cung ứng địa phương cũng là một nhân tố thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn phàn nàn rằng các nhà cung ứng trong nước còn quá nhỏ và công nghệ quá lạc hậu để có thể thực hiện được vai trò rất quan trọng này.

Một khía cạnh tích cực nữa của đầu tư dân doanh là nó có xu hướng phân phối rộng rãi và đồng đều hơn so với đầu tư của nhà nước và nước ngoài. So với các DNNN và FDI thì các doanh nghiệp dân doanh phản ứng nhanh nhạy hơn trước các cơ hội mới của thị trường tại chỗ, một phần là do họ hiểu và gần gũi thị trường hơn, nhưng phần khác là vì các DNNN và FDI lớn thường không quan tâm đến những cơ hội nhỏ. Như vậy, một khu vực dân doanh lớn mạnh sẽ góp phần phát triển nông thôn. Chẳng hạn như doanh nghiệp dân doanh sẽ là cầu nối hiệu quả giữa người nông dân và thị trường thế giới, và qua đó giúp người nông dân cải thiện chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm. Khả năng tạo công ăn việc làm ở khu vực nông thôn là tiền đề then chốt để có thể thu hẹp phần nào khoảng cách thành thị – nông thôn và giảm bớt sức ép di cư cho thành phố.

Sự tăng trưởng của khu vực nhà nước tuy khả quan nhưng phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tài trợ của nhà nước về cả quy mô vốn và mức vốn trung bình trên một công nhân.61 Trong năm 2005, tỷ lệ vốn/lao động của các DNNN cao gấp 3 lần so với các doanh nghiệp dân doanh. Thế nhưng doanh số trung bình do một công nhân tạo ra ở DNNN lại chỉ cao hơn 44% so với khu vực dân doanh. So với khu vực FDI, mức vốn trung bình trên 1 lao động của khu vực nhà nước cao hơn khoảng 70%, thế nhưng doanh số bình quân của một lao động lại tương tự nhau. Thêm vào đó, lao động tại các DNNN có trình độ kỹ năng cao hơn so với lao động ở khu vực dân doanh. Như vậy, mặc dù có lợi thế hơn hẳn cả về vốn và kỹ năng lao động nhưng các DNNN không biến được lợi thế này thành sự vượt trội về năng suất. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng kém hiệu quả này là các DNNN thường được hưởng lợi thế độc quyền, ít phải cạnh tranh bình đẳng với các khu vực khác (đặc biệt là trong việc thực hiện các hợp đồng với nhà nước) và hệ thống khuyến khích yếu. Hiện nay, nhiều DNNN vẫn còn muốn tiếp tục được bảo hộ và ưu đãi về vốn, đất đai, địa vị trên thị trường, và hợp đồng với nhà nước. Mặc dù đây là một cách để khởi đầu, nhưng nếu cứ tiếp tục mãi như thế, thì đây cũng đồng thời là một con đường chắc chắn dẫn tới thất bại.

    Bảng 5: Vốn, doanh thu, và lao động của các DN Việt Nam theo loại hình sở hữu (2005)62

Nhà nước

Ngoài nhà nước

Nước ngoài

Tổng

Lao động (nghìn)

2.041

2.982

1.221

6.244

Vốn (nghìn tỷ đồng)

1.451

705

528

2.684

Doanh thu (nghìn tỷ đồng)

838

853

502

2.159

Vốn/lao động *

711

236

432

430

Doanh thu/lao động *

411

286

411

346

Doanh thu/vốn

0,58

1,21

0,95

0,80

Tốc độ tăng trưởng, 2001-05

Lao động

-1%

22,4%

25,7%

12,2%

Vốn

15,3%

44,4%

18,5%

21,0%

Doanh thu

16,2%

34,5%

29,7%

24,5%

Từ Bảng 5 cũng có thể thấy rằng tốc độ tăng trưởng việc làm ở khu vực dân doanh và FDI rất cao. Cứ sau 3 đến 3,5 năm thì số lượng tuyển dụng của khu vực dân doanh và FDI lại tăng gấp đôi. Mỗi năm có thêm 1,1 triệu người tham gia vào lực lượng lao động. Tính đến cuối năm 2005, khu vực FDI và dân doanh có 4,2 triệu lao động. Điều này có nghĩa là từ năm 2006 cho tới 2008 – 2009, nếu tốc độ tăng trọng việc làm tiếp tục như hiện nay thì hơn 100% lực lượng lao động sẽ được thu hút bởi khu vực doanh nghiệp chính thức – và điều này xảy ra trước khi có sự bùng nổ về FDI trong hai năm 2006 và 2007. Vì nhiều việc làm ở khu vục thành thị không nằm trong khu vực chính thức nên lao động từ vùng nông thôn (vốn có mức lương thấp) sẽ bị kéo về các thành phố, khiến cho tốc độ đô thị hóa tăng đáng kể. Các thành phố của Việt Nam phải chuẩn bị sẵn sàng cho sự di chuyển của hàng triệu người nhập cư trong vài năm tới. Như sẽ được thảo luận ở phần sau, các thể chế đô thị và kế hoạch đầu tư chưa sẵn sàng cho nhiệm vụ khó khăn này.63

3. Chiến lược “những đỉnh cao chỉ huy” của nhà nước

Một mục tiêu trong chính sách công nghiệp của Việt Nam là thúc đầy sự xuất hiện của các doanh nghiệp lớn, tạo ra được nhiều công ăn việc làm, có trình độ cao về công nghệ, và có năng lực cạnh tranh quốc tế. Về mặt lý thuyết, việc các doanh nghiệp này là nhà nước hay tư nhân không quan trọng. Điều thực sự quan trọng là mọi công ty, không phân biệt loại hình sở hữu, phải được đánh giá dựa trên mức độ đạt được các mục tiêu trên. Trong khi chính phủ Việt Nam luôn khẳng định chính sách khuyến khích cả ba khu vực kinh tế cùng phát triển thì trên thực tế, một phần lớn tín dụng và đầu tư được ưu ái dành cho khu vực nhà nước. Tuy nhiên, nếu số liệu thống kê công nghiệp là chính xác thì tỷ trọng sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước liên tục sụt giảm so với khu vực dân doanh và FDI (xem Hình 10). Nếu như vào năm 2001, khu vực nhà nước còn chiếm khoáng 1/3 sản lượng công nghiệp thì đến năm 2006, tỷ lệ này đã giảm xuống dưới 20%. Hơn nữa, khu vực công nghiệp nhà nước cũng có tốc độ tăng trưởng thấp, và vì vậy trong năm 2006 chỉ đóng góp được khoảng 12% cho tổng mức tăng trưởng sản phẩm công nghiệp của toàn nền kinh tế.

Khu vực nhà nước hầu như không tạo thêm được việc làm mới. Bên cạnh đó, trừ một số ngoại lệ, các DNNN hầu như không xuất khẩu các sản phẩm chế tạo; và đối với những doanh nghiệp xuất khẩu được nhờ trợ cấp của nhà nước thì không chắc là liệu chúng thực sự có năng lực xuất khẩu, hay chỉ đơn thuần là chuyến tiền đóng thuế của người dân sang túi của người tiêu dùng nước ngoài. Hình 11 cho thấy đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước trong tồng giá trị gia tăng của khu vực doanh nghiệp không những giảm về mặt tương đối mà còn có tốc độ thua xa khu vực FDI và dân doanh trong nước. Tất cả những con số này cho thấy khu vực FDI và dân doanh trong nước đang phát triển rất năng động đã dần trở thành động lực chính của nền kinh tế, trong khi khu vực kinh tế nhà nước đang thất bại trong việc đạt được những mục tiêu đề ra ban đầu.

Chính phủ Việt Nam chủ trương xây dựng những tập đoàn kinh tế nhà nước quy mô lớn, hoạt động đa ngành. Đây là một nỗ lực nhằm khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô và cải thiện cơ cấu quản lý. Một mục đích khác của nỗ lực này là đề duy trì sự “độc lập và tự chủ”64 về mặt kinh tế thông qua việc “kiểm soát thị trường nội địa”.65 Mặc dù những phát biểu này còn dừng lại ở mức độ đại cương, nhưng chúng cho thấy một sự bất cập về hoạch định chính sách trong bối cảnh của nền kinh tế toàn cầu vào đầu thế kỷ 21. Nền kinh tế thế giới đang ngày càng phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, trong đó nhiều công ty của nhiều quốc gia cùng nhau xây dựng nên các chuỗi cung ứng toàn cầu. Đối với cá nhân doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, việc tham dự vào chuỗi cung ứng toàn cầu này không hề là một sự đe dọa đối với tính độc lập và tự chủ về kinh tế, mà trái lại, là cách duy nhất để trở nên cạnh tranh và hiện đại hoá. Trước thực tế là mỗi sản phẩm, từ giày dép cho đến máy tính cá nhân đều là sản phẩm tập thể của rất nhiều công ty trong chuỗi cung ứng, việc “kiểm soát thị trường nội địa” nên được hiểu như thế nào? Trong thế giới ngày nay, mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã trở nên hết sức lạc hậu, và như đã nói ở trên, các quy tắc của WTO không cho phép các hoạt động bảo hộ thương mại. Một lần nữa, mặc dù về mặt lý thuyết, sở hữu nhà nước không ngăn cản một công ty trở nên hiệu quả và cạnh tranh, nhưng trên thực tế các nền kinh tế mạnh nhất trong khu vực (trừ Sing-ga-po) hầu như không có khu vực nhà nước. Thế nhưng có ai chê Hàn Quốc hay Nhật Bản đánh mất sự “độc lập và tự chủ” kinh tế đâu!

Việc nhấn mạnh vai trò của các tập đoàn kinh tế có tính hướng nội là một dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang đi theo chiến lược công nghiệp của các nước Đông Nam Á, trong đó các tập đoàn tư nhân và nhà nước tích tụ vốn nhờ vị thế độc quyền trên thị trường nội địa (thường được bảo hộ chặt chẽ). Mặc dù các tập đoàn của In-đô- nê-xia, Ma-lay-xia, Thái-lan, và Phải-lip-pin có tăng trưởng về mặt quy mô và phạm vi, nhưng chỉ có một vài tập đoàn thành công trong việc xâm nhập thị trường quốc tế đối với những sản phẩm công nghệ cao. Phần đông trong số chúng tiếp tục phụ thuộc nặng nề vào thị trường nội địa với những sản phẩm có giá trị gia tăng thấp hay vào những hoạt động đầu cơ tài chính. Việc hình thành nhiều tập đoàn kinh tế có mối liên kết ngang còn tạo ra những nhóm đặc quyền, đặc lợi, mà về sau chính những nhóm đặc quyền đặc lợi này lại quay lại thao túng chính phủ và ngăn cản quá trình tự do hoá, công nghiệp hoá, và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Có dấu hiệu ngày càng trở nên rõ ràng là Việt Nam đang dẫm vào vết xe đổ này của một số nước Đông Nam Á.

Các nước Đông Á theo đuổi một chiến lược khác hẳn. Khả năng tiếp cận thị trường nội địa không phụ thuộc vào loại hình sở hữu mà phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh. Các tập đoàn kinh tế đã từng là một mô hình được khuyến khích ở Hàn Quốc, thế nhưng chính phủ kiên quyết sử dụng các “phép thử” về hiệu quả và năng lực cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu đối với các tập đoàn này. Kết quả là, các doanh nghiệp Hàn Quốc không trở nên tự mãn và không sử dụng thế lực chính trị của mình để cản trở những chính sách và những dự án đầu tư công nhằm tăng cường năng suất cho toàn nền kinh tế. Ở Đài Loan, DNNN giữ vị trí thống trị ở các ngành công nghiệp thượng nguồn như hóa chất, sợi tổng hợp, và đúc kim loại. Trên thực tế, những DNNN này ở Đài Loan cũng phải cạnh tranh để cung cấp các yếu tố sản xuất cho doanh nghiệp tư nhân với mức giá cạnh tranh. Những DNNN ở Đài Loan được thành lập để khuyến khích xuất khẩu và tăng cường năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế (như trong mô hình Đông Á), chứ không phải để tích luỹ vốn trên cơ sở được hưởng độc quyền trên thị trường nội địa (như trong mô hình Đông Nam Á).

4. Đối diện với thách thức từ Trung Quốc

Một câu hỏi không thể né tránh khi thảo luận các vấn đề kinh tế của Việt Nam là làm thế nào để cạnh tranh với Trung Quốc. Câu trả lời ngắn gọn (và duy nhất) là không một quốc gia nào có thể cạnh tranh một cách đối đầu với Trung Quốc về các sản phẩm tiêu dùng được sản xuất đại trà. Đơn giản là vì lợi thế theo quy mô của Trung Quốc quá lớn. Chiến lược của Việt Nam vì vậy phải là “nhanh nhạy hơn và thông minh hơn” Trung Quốc. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam cần phải nhanh chóng tiến lên các bậc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu được miêu tả ở phần đầu của bài viết này. Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp của Việt Nam còn chưa xâm nhập vào được quá trình sản xuất toàn cầu (mặc dù công bằng mà nói, nhiều doanh nghiệp của Trung Quốc cũng như vậy.) Có lẽ lợi thế lớn nhất của Việt Nam trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc là với quy mô nhỏ hơn, Việt Nam có thể tiến hành cải cách nhanh hơn. Đồng thời, là người đi sau, Việt Nam có thể học được nhiều bài học vô giá từ thành công cũng như thất bại của những người đi trước, Việt Nam phải có khả năng đảo ngược những xu thế sai lầm được phân tích ở Phần II và III thì mới có hy vọng thực hiện bước “nhẩy vọt” qua mặt Trung Quốc. Cũng phải nói ngay rằng, chừng nào khoảng cách giữa chất lượng đại học của Việt Nam và Trung Quốc chưa được thu hẹp một cách cơ bản thì ước muốn “qua mặt” Trung Quốc chỉ thuần túy là một niềm hy vọng không có cơ sở.

  • Hình 10:Đóng góp cho tăng trưởng công nghiệp thực theo khu vực kinh tế (Nguồn:Niên giám Thông kê Việt Nam 2006)

  • Hình 11: Đóng góp về giá trị gia tăng của ba khu vực kinh tế (Nguồn:”Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra 2001-2006”,Tổng cục Thống kê)

con đường mới (3)

Phần 3. Việt Nam: Đông Á hay Đông Nam Á

IV. Việt Nam: Đông Á hay Đông Nam Á?

Phần này đánh giá kết quả đạt được của Việt Nam trên 5 phương diện chính sách then chốt – vốn là tiêu thức tin cậy để phân biệt Đông Á và Đông Nam Á.

1. Giáo dục

Hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện đang khủng hoảng. Mặc dù tỷ lệ đi học ở các cấp phổ thông tương đối cao, nhưng chất lượng của các bậc học này rất đáng lo ngại. Kết quả trượt tốt nghiệp trung học phổ thông trong năm 2007 cho thấy nhiều học sinh thậm chí còn không nắm được kiến thúc cơ bản. Bên cạnh đó, số lượng sinh viên được vào đại học cũng chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong những người ở độ tuổi học đại học. Trong năm 2000, tỷ lệ lao động tốt nghiệp đại học chỉ chiếm 2% tổng dân số, so với 5% ở Trung Quốc và 8% ở Ấn Độ là những nước đông dân hơn rất nhiều.

Năm 2005, tỷ lệ sinh viên đỗ đại học ở Việt Nam chỉ là 16%, trong khi con số này ở Trung Quốc và In-đô-nê-xia là 17%-19%, còn ở Thái-lan là 43%. Mặc dù số lượng sinh viên đại học đã tăng một cách đáng kể từ năm 1990 nhưng với hạn chế về cả số lượng và chất lượng giảng viên, hệ thống đào tạo đang ngày càng bị dồn nén. Không những thế, chất lượng đào tạo ở các trường đại học của Việt Nam chưa đạt chuẩn. Giảng viên ở các trường đại học của Việt Nam có rất ít bài đăng trên các tạp chí quốc tế. Trên thực tế, trường đại học của Việt Nam thua xa khi so với ngay cả trường của các nước Đông Nam Á – vốn chưa phải là những trường đẳng cấp quốc tế.32 Nếu nhìn vào sản phẩm đào tạo thì khoảng phân nửa sinh viên ra trường ở Việt Nam không được làm đúng ngành đào tạo.33

Những kết quả đáng buồn như vừa miêu tả không phải do hệ thống giáo dục hiện nay thiếu tiền. Trên thực tế, tỉ lệ ngân sách dành cho giáo dục trong GDP của Việt Nam cao hơn hầu hết các nước trong khu vực.34 Như vậy, vấn đề thực sự nằm ở chỗ nguồn lực này được sử dụng như thế nào, và đặc biệt, nằm ở cấu trúc quản trị xơ cứng và bất cập ở mọi cấp độ của hệ thống giáo dục. Chi tiêu của hệ thống giáo dục hiện nay kém minh bạch và lãng phí. Như lời bình luận của một tác giả trên báo Tuổi Trẻ, nếu những con số chính thức về quỹ lương là đáng tin cậy thì mức lương trung bình của giáo viên phải cao gần gấp đôi mức lương thực tế họ đang được nhận.35 Vậy thì tiền đi đâu? Không lẽ nó đã bị cơ chế hiện nay “nuốt chửng”? Với một hệ thống quản trị như vậy, đổ thêm tiền vào chỉ là giải pháp tình thế mà không thể giải quyết được những vấn đề cơ bản nhất của nền giáo dục Việt Nam về chất lượng và khả năng tiếp cận.36 Trong giáo dục đại học, các trường cần phải có nhiều quyền tự chủ hơn để có thể chuyên môn hóa sâu, cạnh tranh trên cơ sở chất lượng và phù hợp với nhu cầu của thị trường. Chế độ tuyển dụng, đãi ngộ, đề bạt phải chuyển từ tiêu chuẩn “thâm niên” sang “kết quả”. Cần mở rộng nguồn tài trợ cho các trường đại học, không chỉ bao gồm học phí và các khoản hỗ trợ của nhà nước, mà còn bao gồm hợp đồng nghiên cứu và đóng góp hảo tâm của khu vực tư nhân.37 Chất lượng các trường đại học là một chỉ báo đáng tin cậy cho mức độ phát triển của nền kinh tế. Những nước giàu và đang trở nên giàu thường có nhiều trường đại học tốt, còn những nước nghèo thì không. Hiện nay, các trường đại học của Việt Nam có thể bị xem như là kém nhất so với hầu hết các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á, chứ chưa cần so với Đông Á. Nếu như không có những biện pháp cấp thiết để cải cách giáo dục thì chắc chắn là Việt Nam sẽ không thể đạt được các mục tiêu đã đề ra về công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Như đã lưu ý ở trên, các nước Đông Á rất chú trọng tới việc thúc đẩy năng lực phát triển công nghệ của quốc gia. Sử dụng mọi thước đo khách quan, dường như nền khoa học và công nghệ của Việt Nam là một thất bại. Điều này, đến lượt nó, lại là một trong những trở ngại chính cho tăng trưởng kinh tế. Trong năm 2002, Việt Nam chỉ đăng ký có 2 bản quyền với Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO). Hình 4 cung cấp thêm bằng chứng về mức độ bất cập về trình độ công nghệ của Việt Nam. Năm 2006, các nhà nghiên cứu của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) đăng được 41 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế. Cũng trong năm đó, chỉ riêng các nhà nghiên cứu của trường Đại học Phúc Đán ở Thượng Hải đã đăng được 2.286 bài trên các tạp chí quốc tế.38 Mặc dù kết quả đáng thất vọng như vậy nhưng mới đây chính phủ đã tuyên bố kế hoạch biến các nhà nghiên cứu của VAST thành hạt nhân cho một trường đại học khoa học và công nghệ mới của Việt Nam. Liệu có nên đặt niềm tin của việc đào tạo các thế hệ nhà khoa học và kỹ sư tương lai của Việt Nam vào một tổ chức yếu kém về năng lực nghiên cứu khoa học? Đây lại là một ví dụ nữa cho nỗ lực che chắn cạnh tranh của các tổ chức thất bại thông qua các biện pháp hành chính. Một lựa chọn tốt hơn là nới lỏng kiểm soát đối với các viện nghiên cứu và trường đại học, và cho phép các tổ chức này cạnh tranh với nhau để thu hút được những giảng viên và sinh viên xuất sắc nhất và những nguồn tài trợ dồi dào nhất – tất cả đều dựa trên kết quả hoạt động thực tế.

Để cải thiện chất lượng giáo dục đại học và khoa học, các trường đại học của Việt Nam phải tạo những điều kiện thuận lợi nhất và có những ưu đãi hấp dẫn nhất để thu hút được những nhà khoa học hàng đầu. Chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích các trường đại học của mình xâm nhập thị trường chất xám toàn cầu, và các trường này đang ngày càng thành công trong việc mời được những nhà khoa học Trung Quốc xuất sắc nhất từ Mỹ và từ các nước khác trở về với mức đãi ngộ và hỗ trợ nghiên cứu cạnh tranh. Trái lại, Việt Nam chưa sẵn sàng chấp nhận tham gia “cuộc chơi” săn lùng chất xám này.39 Trên thực tế, những người xuất sắc nhất trong hệ thống của Việt Nam vẫn phải chịu một sự ghen tị nếu như họ có may mắn được đãi ngộ một cách trọng thị hơn những người khác. Thị trường chất xám là một thị trường toàn cầu, và những nhà khoa học xuất sắc nhất của Việt Nam có rất nhiều lựa chọn trong thị trường này. Chắc chắn là chỉ có một số rất ít nhà khoa học xuất sắc chịu chấp nhận các điều kiện làm việc ở các trường đại học của Việt Nam như hiện nay. Lòng yêu nước của mỗi nhà khoa học đều có, nhưng họ cũng cần cả những sự đãi ngộ và tôn trọng xứng đáng nữa.40

  • Hình 2: Tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghệ cao*

2 Cơ sở hạ tầng và đô thị hóa

2.1. Điện lực và Giao thông

Các nền kinh tế mạnh ở Đông Á đều hiểu rằng chìa khóa cho sự tồn tại của họ là phải làm thế nào để đèn luôn luôn sáng và xe luôn luôn chạy. Thế nhưng ở Việt Nam, mất điện và tắc đường đã trở thành câu chuyện hàng ngày. CSHT là trở ngại quan trọng thứ hai cho sự phát triển của Việt Nam. Tình hình CSHT hiện nay là vô cùng đáng lo ngại.

Tầm quan trọng của điện đối với nền kinh tế được ví như ô-xy đối với cơ thể người. Nếu thiếu điện, hay nếu giá điện quá cao thì đời sống kinh tế sẽ đình trệ ngay lập tức. Mặc dù ai cũng biết rằng điện là một yếu tố đầu vào thiết yếu của sản xuất, thế nhưng chính sách năng lượng của Việt Nam lại có những sai lầm tai hại. Với việc đầu tư quá nhiều vào thủy điện, giờ đây Việt Nam đang gặp phải tình trạng thiếu điện ngày càng trở nên trầm trọng trong mùa khô. Tình trạng này đã được dự báo từ trước nhưng lại bị xem thường, chứng tỏ việc thiếu một tầm nhìn chiến lược hay do sự tác động của các nhóm lợi ích đặc biệt. Việc Việt Nam không thể kiểm soát lưu lượng nước ở thượng nguồn làm tăng rủi ro của việc phụ thuộc quá nhiều vào thủy điện. Hiện nay, thiếu điện không chỉ còn là hiện tượng của mùa khô nữa. Mới chỉ vào đầu mùa khô mà nhiều địa bàn của TP. Hồ Chí Minh đã phải chịu cảnh cắt điện luân phiên không báo trước. Quyết định của chính phủ không cho phép EVN thành lập công ty mua-bán điện là một quyết định đúng đắn. Càng ngày càng có thể thấy rõ là EVN đã nhầm lẫn trong khi xác định ưu tiên của mình. Bên cạnh việc đầu tư quá mức vào thủy điện thì việc EVN bành trướng hoạt động sang lĩnh vực viễn thông, dịch vụ tài chính, bất động sản không những không giúp thực hiện nhiệm vụ cơ bản của nó là “giữ vai trò chính trong việc đảm bảo cung cấp điện ổn định, an toàn cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội; thực hiện đầu tư phát triển các công trình lưới điện đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư; đầu tư các dự án nguồn điện theo nhiệm vụ được giao”, mà trái lại, còn làm phân tán nguồn nhân lực và tài lực có hạn của mình.41 Một doanh nghiệp độc quyền nhà nước như EVN sẽ chỉ hoạt động tốt nhất nếu như nó tập trung cao độ vào nhiệm vụ chính và thực hiện nhiệm vụ này một cách hiệu quả, đồng thời không bị phân tâm bởi các hoạt động kinh doanh ngoại vi.

Theo chiến lược năng lượng của chính phủ cho giai đoạn 2006-2015, mỗi năm Việt Nam phải tăng công suất điện từ 17-20%. Nhiều dự án hiện nay đã bị chậm tiến độ một cách trầm trọng, đúng vào lúc mà nền kinh tế đang cần điện nhất. Năm 2007, chỉ có một trong số năm dự án phải đưa vào hoạt động được thực hiện đúng tiến độ.42 Đây là những dấu hiệu cho thấy EVN không đủ năng lực trong việc cung cấp điện để đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế kỳ vọng. Vì vậy, nhà nước phải hoàn thiện cơ chế điều tiết để tạo ra những khuyến khích và điều kiện thích hợp cho khu vực kinh tế dân doanh và nước ngoài tham gia sản xuất điện.43

Đầu tư CSHT nhiều khi bị phung phí hoặc là đối tượng của tham nhũng. Ngay cả những dự án cấp thiết cũng thường bị chậm tiến độ so với kế hoạch. Những hiện tượng tham nhũng, lãng phí, chậm tiến độ v.v. của các dự án hạ tầng được báo chí phanh phủi thường xuyên, và do vậy không cần phải nhắc lại ở đây. Nhìn chung, Việt Nam cố gắng tìm kiếm sự bình đẳng trong phát triển giữa các vùng miền, và vì vậy đầu tư rất nhiều cho các vùng kém phát triển. Mục tiêu này hoàn toàn dễ hiểu. Tuy nhiên, nhiều dự án như thế trên thực tế rất lãng phí và không hiệu quả. Những chương trình như “Một triệu tấn đường” hay “đánh bắt cá xa bờ” và phong trào xây dựng các khu công nghiệp, và mới đây là khu kinh tế mà trên thực tế là không đem lại nhiều lợi ích cho người dân ở các khu vực nông thôn, vốn là mục tiêu ban đầu của những dự án này. Đấy là chưa kể tình trạng ô nhiễm tràn lan tới mức khó kiểm soát ở rất nhiều khu công nghiệp hiện nay đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống sản xuất và mưu sinh của người dân. Trong khi nguồn lục bị phung phí vào các dự án này thì CSHT đô thị lại ít được đầu tư và đang xuống cấp nghiêm trọng, và đang tiệm cận mức độ khủng hoảng. Những xu hướng này rất tai hại và thiển cận: Nếu như tình trạng nghẽn cổ chai về CSHT dẫn tới suy giảm hoạt động kính tế của các tỉnh miền Đông Nam bộ thì tác động ngược trở lại của nó tới nền kinh tế và tới lao động di cư từ các khu vực khác có thể sẽ rất nghiêm trọng.

Những dự án phát triển hạ tầng tốn kém và lãng phí thường dẫn tới việc cung ứng dịch vụ kém hiệu quả với giá thành cao. Theo Ngân hàng Thế giới (được minh họa ở Hình 3), chi phí để xuất một công-ten-nơ 20ft từ Việt Nam, bao gồm chi phí cho các thủ tục giấy tờ, chi phí hành chính, xếp dỡ, và vận chuyển nội địa, là 701 đô-la Mỹ. Trong khi đó, chi phí này ở Trung Quốc chỉ là 335 đô-la, và ở Sing-ga-po là 382 đô-la. Sự yếu kém này trong năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển càng làm cho xu hướng đầu tư cảng biển hiện nay trở nên nguy hiểm và cần được báo động.

Miền Đông Nam bộ có nhu cầu cấp thiết về cảng biển nước sâu để có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng như hiện nay. Hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chưa thể xuất trực tiếp sang thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu mà vẫn phải quá cảng ở Hồng Kông và Sing-ga-po, nơi hàng được chuyển sang các “tàu mẹ” lớn hơn để đến đích cuối cùng. Tất nhiên là việc phải quá cảng này làm gia tăng chi phí và thời gian vận chuyển. Nhiều khả năng là trong vòng vài năm tới, “tàu mẹ” đi Bắc Mỹ và Châu Âu sẽ bắt đầu cập cảng TP. Hồ Chí Minh. Hình 4 cho thấy miền Đông Nam Bộ ở vị trí hết sức thuận lợi để khai thác các tuyến vận tải biển quốc tế quan trọng. Trên thực tế, miền Đông Nam Bộ đã được các hãng tàu lớn đưa vào trong bản đồ lộ trình của mình. Tổ hợp cảng mới Cái Mép – Thị Vải ở Bà Rịa – Vũng Tàu đang được triển khai và các nhà đầu tư nước ngoài cũng đang rất quan tâm tới dự án này. Phát triển cảng biển mới cho miền Đông Nam bộ nên là một ưu tiên quốc gia, thế nhưng cho đến nay việc xây dựng vẫn chưa được thực sự bắt đầu. Trong khi đó, rất nhiều kế hoạch hoành tráng đã được công bố hoặc đang được triển khai ở nhiều tỉnh miền Trung, bao gồm Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế. Nhìn từ góc độ kinh tế thì những dự án này rất thiếu cơ sở. Với quy mô như hiện nay, Việt Nam chỉ cần tối đa ba cảng nước sâu cho ba miền. Đồng thời, một hệ thống đường sắt chở hàng hiện đại sẽ làm cho việc xây dựng các cảng biển ở miền Trung không còn trở nên cần thiết nữa. Cả một vùng rộng lớn ở miền Tây nước Mỹ (dài hơn 1.900 km) cũng chỉ có 3 cảng biển quốc tế. Những quyết định tốn kém về CSHT như cảng biển chỉ nên được thực hiện sau khi đã nắm vững các luồng lưu chuyển thương mại quốc tế. TP. Hồ Chí Minh và Bà Rịa – Vũng Tàu là những cảng duy nhất có khả năng sẽ được tiếp nhận tàu mẹ trong một tương lai tương đối gần. Nhu cầu và hiệu quả của dự án đầu tư cảng biển quốc tế cho miền Đông Nam Bộ, đồng thời nâng cấp đường bộ và đường sắt nối liền ba miền sẽ cao hơn nhiều so với dự án đầu tư 33 tỉ đô-la cho dự án tàu khách cao tốc nối liền Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh như kế hoạch hiện nay.44 Cũng cần lưu ý thêm rằng, vì cảng hiện đại được cơ giới hóa cao độ nên chúng không phải là một nguồn tạo công ăn việc làm đáng kể.

2.2. Đất đai và đô thị hóa

Một thách thức có liên quan là đô thị hóa, đặc biệt là thách thức về nhà ở và giao thông. Trừ phi việc sử dụng đất và giao thông được giải quyết một cách thỏa đáng và nhanh chóng, bằng không tình trạng tắc nghẽn, ô nhiễm, và đông đúc gia tăng nhanh chóng ở các thành phố lớn chắc chắn sẽ xảy ra. Hệ quả tất yếu của chính sách bất cập sẽ là tăng trưởng bị suy giảm mạnh. Giá đất ở các đô thị và sắp trở thành đô thị của Việt Nam tương đương với mức giá ở những khu vực tương tự ở Nhật Bản, một quần đảo đông dân với thu nhập trung bình cao hơn Việt Nam tới 50 lần. Như được minh họa trong Bảng 1, giá đất cao một cách phi lý không chỉ dừng lại ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh mà đã lan rộng ra các tỉnh xung quanh. Đất của một dự án phát triển đô thị mới ở Thủ Dầu Một (Bình Dương) hiện đã lên tới 26 triệu/m2.45 Điều này có nghĩa là giá của một lô đất diện tích 100m2 sẽ lên tới hơn 160.000 đô-la Mỹ.46 Mức giá này, xuất hiện ở một tỉnh lị có mật độ dân cư ngày một cao có nghĩa là nhiều người sẽ không những không thể sở hữu một ngôi nhà “vừa phải”, mà thậm chí có khi còn không đủ tiền để trả tiền thuê nhà nữa. Có vẻ như quan chức địa phương và các nhà đầu cơ giàu có là nguyên nhân chính của tình trạng này. Ở một số tỉnh, hàng ngàn héc-ta đất đã bị chuyển thành đất của khu công nghiệp mà trên thực tế gần như còn trống trơn chưa có hoạt động gì. Giá đền bù cho người nông dân thường quá thấp khiến họ không muốn bán đất cho các dự án công nghiệp. Trên thực tế, một bộ phận nông dân Việt Nam đang phải đối đầu với cảnh mất đất, trong khi tương lai nghèo vẫn hoàn nghèo vì họ không biết sẽ làm gì sau khi mất đất. Những việc làm như thế này gây nên những phản ứng xã hội mạnh mẽ và rộng lớn ở cả khu vực nông thôn và thành thị. Cần nhanh chóng có những chính sách đất đai hợp lý vì hiện nay quá trình đô thị hóa đang diễn biến rất nhanh, đẩy các thành phố vào tình trạng gần như không quản lý nổi về nhiều mặt.

Bảng 1. Giá đất tại một số khu đô thị mới ở miền Đông Nam Bộ

Vị trí

12/2006

12/2007

% thay đổi

TP.Hồ Chí Minh

Phú Mỹ – Vạn Phát Hưng, Quận 7

11,0

27,0

145%

Thái Sơn, huyện Nhà Bè

5,5

16,0

191%

Nam Nam Saigon, Hồng Lĩnh, quận Bình Chánh

4,3

13,0

202%

Thạch Mỹ Lợi, Huy Hoàng, quận 2

16,0

26,5

66%

Gia Hòa, quận 9

5,5

14,0

155%

Các tỉnh xung quanh

Long Thọ – HUD, Nhơn Trạch, Đồng Nai

1,0

2,5

150%

Long Hậu, Long An

3,2

(6/2007)

6,5

103%

Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một, Bình Dương

6,7

26,0

288%

Với sự tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ (chủ yếu là dịch vụ đô thị) như hiện nay, có lẽ dân số đô thị sẽ tiếp tục gia tăng với tốc độ thậm chí còn cao hơn trong những năm tới. Nếu như tốc độ tạo thêm việc làm mới ở khu vực chính thức tiếp tục tăng (ở mức cao hơn nhiều so với trước như hiện nay) thì tỷ lệ dân cư đô thị sẽ ngày càng tăng, vô số người sống ở vùng nông thôn sẽ ngày càng giảm.47 Cũng như dân số nông thôn ở Trung quốc bắt đầu giảm một thập kỷ trước, điều tương tự đang xảy đến với Việt Nam. Nếu như tiêu chí để xác định cư dân đô thị được xác lập khách quan hơn chứ không dựa trên cơ sở địa giới hành chính như hiện nay thì trên thực tế, dân số đô thị sẽ cao hơn nhiều, đồng thời tốc độ tăng trưởng cũng nhanh hơn nhiều so với những số liệu thống kê hiện có. Những cuộc điều tra mức sống dân cư ở Việt Nam đã ước lượng thấp dân số đô thị vì nó sử dụng các tiêu thức có tính hành chính để phân biệt dân nông thôn và thành thị. Nhiều xã được coi là nông thôn trong các cuộc điều tra này trên thực tế có mức độ đô thị hóa cao, nếu dựa theo các tiêu thức khách quan khác.

Kinh nghiệm gần đây của Thái-lan, Phi-líp-pin, và In-đô-nê-xia cho thấy, quy hoạch đô thị hóa tồi là một nguồn gốc tiềm tàng của bất ổn chính trị và xã hội. Người ta ai cũng cần có nhà cửa ổn định, môi trường sống tương đối sạch sẽ, dịch vụ giáo dục và y tế chất lượng cho các thành viên trong gia đình. Người Việt Nam có câu “an cư, lạc nghiệp”. Chính sách chủ động, đầu tư hiệu quả và kịp thời là những biện pháp cần thiết để tránh nạn đông đúc, ùn tắc, và đô thị hóa không lành mạnh, vốn là những trở ngại cho quá trình tăng trưởng của nền kinh tế. Với mức giá bất động sản cao ngất trời như hiện nay, nhiều người đang phải đứng trước một lựa chọn khó khăn – hoặc là chuyển nhà ra vùng ngoại ô và chấp nhận thời gian từ nhà đến cơ quan lâu hơn trước, hoặc là sống trong nội thành đồng đúc và đắt đỏ. Giá thuê nhà rất cao ở các căn hộ trung tâm đã vượt khỏi tầm với của hầu hết mọi hộ gia đình trong thành phố.

Việt Nam thiếu kinh nghiệm trước những vấn đề mới nổi lên này. Mới đây thôi, vào năm 2002, hầu như mọi hộ gia đình có hộ khẩu ở thành phố đều có nhà riêng. Chỉ có 8% không có nhà riêng, và trong số này phần lớn thuê nhà của nhà nước.48 Thế nhưng với làn sóng nhập cư mới, tình hình sẽ khác trước.49 Những người nhập cư này thậm chí còn không được tính là người hiện đang sống ở thành phố, thu nhập của họ không thể đủ dù chỉ là mua một căn hộ tí hon ở thành phố. Vì vậy, nếu như họ không có tài sản nào khác hay không có người quen hay họ hàng ở thành phố thì lựa chọn duy nhất là sống tập trung tại các khu ven đô. Nếu dân số đô thị tăng trên 1 triệu người hàng năm (bao gồm cả tăng dân số tự nhiên và nhập cư) thì trách nhiệm cung cấp nhà ở, CSHT, trường học và các dịch vụ công cho số dân cư mới này sẽ vô cùng nặng nề. Quyết định mới đây của chính phủ tạo điều kiện đăng ký hộ khẩu dễ dàng hơn cho người nhập cư ở thành phố là một chính sách rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, đây sẽ là một động lực quan trọng khuyến khích nông dân tiếp tục di cư và tạo thêm sức ép cho khu vực thành thị.

Chính sách đất đai là một vấn đề phức tạp cho cả khu vực thành thị và nông thôn. Nhưng hiện nay ở đô thị, chính sách về thu hồi đất, phân vùng, và phát triển hạ tầng đang đội giá đất lên cao ngoài tầm với của hầu hết người lao động. Đất đai đã trở thành một khoản đầu tư và đầu cơ chứ không thuần túy chỉ phục vụ mục đích xây nhà. Hơn nữa, lợi nhuận từ đầu cơ đất đai hấp dẫn hơn bất kỳ một hoạt động đầu tư sản xuất nào khác, và chính điều này làm cho một phần lớn nguồn lực của nền kinh tế bị chuyển sang mục đích phi sản xuất. Một hệ thống chính sách đồng bộ về phát triển đô thị cũng bao gồm hoạt động cung ứng phương tiện giao thông công cộng, thuế tài sản và bất động sản để có nguồn thu phục vụ phát triển CSHT và các dịch vụ công khác, đồng thời là cơ sở cho sự phân phối công bằng và hợp lý hơn. Chính sách cung cấp các công cụ tài trợ dài hạn cho hoạt động xây dựng của các công ty phát triển CSHT hay mua căn hộ của các hộ gia đình sẽ giúp nhiều người có thể mua được nhà, mặc dù những hộ gia đình nghèo nhất sẽ cần những trợ giúp bổ sung. Ở đây cũng vậy, kinh nghiệm của các nước khác có thể cung cấp những bài học hữu ích, chẳng hạn như Hồng-kông và Sing-ga-po đã bắt đầu xây nhà công cộng cho những hộ gia đình nghèo từ những năm 1950.

Phần đầu của bài viết này đã lập luận rằng các nước Đông Nam Á đã thất bại trong việc xử lý nhiều thách thức của quá trình đô thị hóa nhanh chóng. Các thành phố Đông Nam Á không thể cung cấp cho cư dân của mình những dịch vụ tối thiểu như giáo dục, y tế, và vệ sinh một cách thoả đáng. Về những phương diện này, có vẻ như TP. Hồ Chí Minh đang đi vào vết xe của các thành phố Đông Nam Á.. Những triệu chứng này được báo chí báo động thường xuyên, bao gồm tắc nghẽn giao thông, ngập nước, thiếu phòng học, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm kém, bệnh viện quá tải, phòng cháy chữa cháy bất cập vân vân và vân vân. Hình 5 cho thấy một trong những nguyên nhân của tình trạng này, đó là mặc dù 4 tỉnh miền Đông Nam Bộ (TP. HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu) hấp thụ phần lớn lượng tăng dân số cơ học và dân nhập cư, đồng thời cũng là khu vực đóng góp nhiều nhất cho ngân sách quốc gia nhưng lại chiếm chưa đến 10% chi tiêu của một quốc gia. Tất nhiên, việc tăng chi tiêu và đầu tư không phải là thần dược chữa lành những triệu chứng yếu kém của việc đô thị hóa nhanh (đặc biệt trong bối cảnh nhiều dự án CSHT công cộng bị chậm tiến độ và thất thoát như hiện nay). TP. Hồ Chí Minh đang có nhu cầu cấp thiết trong việc xây dựng một chính quyền đô thị tập trung và hiệu quả. Bằng không, tăng đầu tư trong khi quản trị kém thì chỉ làm tình hình trở nên tồi tệ thêm mà thôi. Đề xuất xây dựng chính quyền đô thị để nâng cao chất lượng quản trị thành phố vì vậy nên được coi là một ưu tiên hàng đầu của TP. Hồ Chí Minh cũng như một số đô thị lớn khác của Việt Nam.

3. Các công ty có tính cạnh tranh quốc tế

3. 1. Sụ hình thành của các tập đoàn kinh tế

Vào đầu những năm 1990, thất vọng trước kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước, chính phủ đã cố gắng tìm mọi cách nhằm làm cho khu vực này trở nên năng động hơn. Để thực hiện mục tiêu này, từ năm 1994, chính phủ đã tập hợp các DN công nghiệp nhà nước để hình thành nên các doanh nghiệp lớn hơn, gọi là các tổng công ty (TCT) 90 và 91 – tiền thân của các tập đoàn kinh tế nhà nước sau này. Ý đồ của chính sách này là với quy mô lớn hơn, các TCT có thể tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô, phát triển thương hiệu cũng như khai thác các lợi thế khác. Mô hình tham khảo cho các TCT là các keiretsu của Nhật Bản (như Mitsubishi, Mitsui v.v.) và chaebol của Hàn Quốc (như Sam sung, Daewoo, Kumho v.v.). Điều khác biệt quan trọng nhất giữa mô hình TCT của Việt Nam với mô hình chaehol của Hàn Quốc là, tất cả các chaebol đều buộc phải trở nên có tính cạnh tranh quốc tế trong vòng một vài năm, rồi sau đó phải xuất khẩu được một tỷ lệ nhất định sản lượng của mình. Mặc dù các chaebol này được nhà nước trợ cấp rất nhiều trong thời kỳ đầu, nhưng những khoản trợ cấp này sẽ giảm dần và biến mất hoàn toàn trong những năm sau đó. Ngược lại, các TCT của Việt Nam được xây dựng để thay thế hàng nhập khẩu, và do vậy luôn nhận được sự bảo hộ và trợ giúp của chính phủ, ngay cả khi chúng thua lỗ và không thể xuất khẩu. Nói một cách ngắn gọn, có thể coi các TCT như một hình thức kiểm soát và theo dõi các doanh nghiệp thành viên một cách hành chính. Mô hình TCT, vì vậy, rất gần gũi với hệ thống kế hoạch hóa tập trung trong đó các doanh nghiệp hầu như không có quyền tự chủ – vốn là một điều kiện tiên quyết để tạo nên một tập đoàn thực thụ.

Trong mấy năm trở lại đây, chính phủ ngày càng nhận thức rõ về sự thất bại của mô hình TCT và đi đến quyết định phải cải cách những TCT này. Một trong những chính sách chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ này là kế hoạch xây dựng 19 tập đoàn nhà nước (TĐNN) – hậu duệ của 18 TCT 91 và TCT Kinh doanh và Đầu tư vốn Nhà nước (SCIC) – nắm giữ vị thế gần như độc quyền ở nhiều ngành công nghiệp nặng. Một nguyên nhân nữa, có lẽ còn quan trọng hơn, của việc hình thành các TĐNN vào thời điểm này là do sự kiện Việt Nam gia nhập WTO. Chính phủ lo ngại rằng các DNNN sẽ không thể cạnh tranh trong khuôn khổ “luật chơi” của WTO, và do vậy đã quyết định đẩy nhanh tiến độ thành lập các TĐNN để có thể cạnh tranh với các DN lớn của nước ngoài.

Có nhiều lý do để nghi ngờ rằng các TĐNN này sẽ không thể tự chuyển hóa mình để trở thành những DN cạnh tranh quốc tế. Nguyên nhân quan trọng nhất là cấu trúc của các tập đoàn này rất giống với các TCT trước đây, đồng thời những TCT này đã có 12 năm để chứng minh rằng chúng không thể thành công trong hoạt động xuất khẩu và cải thiện kết quả kinh doanh của mình. Trừ Sing-ga-po ra thì hình như không có nước nào khác trên thế giới đã từng thành công trong việc sử dụng DNNN như một phương tiện chủ yếu để xây dựng nên các DN cạnh tranh quốc tế. Có vẻ như Việt Nam, vì nhiều lý do khác nhau, sẽ không thể lặp lại thành tích này của Sing-ga-po.

Thế nhưng, ngay cả khi gạt sang bên một thực tế là các tập đoàn này đều là những DNNN, thì vẫn có nhiều lý do để nghi ngờ về khả năng các tập đoàn này một ngày nào đó sẽ trở thành những công ty lớn mạnh. Có thể nói những người ủng hộ mô hình TĐNN đã hiểu nhầm kinh nghiệm của các tập đoàn trên thế giới. Chẳng hạn như, việc dựng lên các tập đoàn lớn một cách duy ý chí không phải là một công thức phổ quát để hình thành nên những doanh nghiệp công nghiệp thành công trên thế giới, nhất là khi quyết định này không do các doanh nghiệp tư nhân thực hiện và được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp và thể chế tốt.

Để kết luận, chính sách hình thành nên các TĐNN về thực chất là một sự kết hợp giữa cơ chế “phòng thử” và mục tiêu tiếp tục duy trì kiểm soát của nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp. Nếu quả thực là như vậy thì những TĐNN này sẽ không thể giúp Việt Nam xây dựng nên một nền công nghiệp nặng có tính cạnh tranh.

3.2. Tập đoàn và sự xuất hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”

Đang tồn tại một mâu thuẫn cơ bản trong chính sách kinh tế của Việt Nam, đó là trong khi khu vực dân doanh trong nước và đầu tư nước ngoài là hai khu vực năng động nhất thì khu vực nhà nước lại luôn nhận được những khoản đầu tư và sự ưu ái của nhà nước. Mặc dù tinh thần của Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp thống nhất 2005 rất tiến bộ nhưng động năng này không biết có thể được tiếp tục duy trì hay không. Một số cuộc khảo sát gần đây cho thấy rằng tuy môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có một số cải thiện nhất định nhưng vẫn còn chậm so với các nước cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam. Thứ bậc xếp hạng về năng lực cạnh tranh quốc gia cũng cho thấy những tín hiệu tương tự. Khả năng tiếp cận đất đai và vốn của Việt Nam đã được cải thiện, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số rào cản đáng kể như thiếu lao động có kỹ năng và nhà quản lý trung-cao cấp, chưa có hiệp hội doanh nghiệp độc lập mạnh, thời gian tuân thủ luật thuế và pháp luật nói chung còn rất cao, hệ thống luật phá sản, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp còn kém hiệu lực.

Có vẻ như nền kinh tế Việt Nam ngày càng bị thống trị bởi các tập đoàn kinh tế nhà nước. Trong khi chính sách của Đảng và chủ trương của nhà nước khẳng định rằng các tập đoàn kinh tế phải tập trung vào những ngành chiến lược thì trên thực tế, những tập đoàn này hiện đang mở rộng hoạt động một cách nhanh chóng và đầy tham vọng sang nhiều lĩnh vực khác nhau như bất động sản, dịch vụ tài chính, ngân hàng, lữ hành, và cả phân phối điện thoại di động nữa.50 Hầu hết các tập đoàn này không tận dụng cơ hội từ việc Việt Nam gia nhập WTO đem lại để thâm nhập thị trường quốc tế. Trái lại, những tập đoàn này lại cố gắng tạo ra những công ty độc quyền trong nước để ngăn cản cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài. Một cuộc điều tra 200 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam mới đây do UNDP thực hiện khẳng định rằng nhiều công ty trong “Top 200” của Việt Nam đang đầu cơ đất đai và chứng khoán mà thiếu tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi của mình. Nghiên cứu của UNDP còn cho thấy một xu hướng đáng lo ngại, đó là nhiều công ty dân doanh và cổ phần hóa ít chú tâm tới việc trở nên cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Thay vào đó, những công ty này đang đua nhau tìm kiếm lợi nhuận tức thời trong khu vực bất động sản và tài chính. Chẳng hạn như cả REE – một công ty điện lạnh và Gemadept – một công ty vận chuyền đường biển đều đang đầu tư một cách mạnh mẽ vào nhiều dự án bất động sản.51

Tương tự như vậy, một số tập đoàn kinh tế nhà nước như Petro Việt Nam, Vinashin, và EVN đang thành lập hay đoạt quyền kiểm soát ở một số ngân hàng. Sau đó, các tập đoàn này sẽ sử dụng ngân hàng để tài trợ cho các kế hoạch mở rộng lãnh địa của mình. Nếu như không có hệ thống kiểm soát đủ mạnh và khả năng phân tán rủi ro hiệu quả thì chắc chắn cấu trúc này sẽ dẫn tới những khoản vay và đầu tư quá mức của các thành viên tập đoàn. Các tập đoàn nhà nước đang lợi dụng sự bảo lãnh công khai hay ngầm của nhà nước để thực hiện các khoản vay lớn trên thị trường quốc tế. Tất cả những động thái này đều là những thủ thuật cổ điển mà các keiretsu của Nhật Bản và chaehol của Hàn Quốc (giờ đều đã mất hình ảnh vàng son thuở nào) từng thực hiện. Việc các thành viên của tập đoàn vay nợ và sở hữu chéo lẫn nhau, cùng với các khoản vay nước ngoài không được phòng vệ là những nguyên nhân chính dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á và Đông Nam Á năm 1997.

Trong bài viết này và trong các phân tích về nền kinh tế Việt Nam chúng ta thường thấy sự phân biệt giữa 3 thành phần kinh tế: dân doanh, nhà nước, và đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, ranh giới trên thực tế của ba loại hình doanh nghiệp này không đơn giản và rành mạch như vậy. Hiện nay đã và đang xuất hiện một lớp doanh nghiệp mới mang danh cổ phần hóa nhưng thực chất đã được tư nhân hóa một cách nội bộ và qua đó biến tài sản nhà nước thành sở hữu riêng của mình. Đồng thời cũng xuất hiện một lớp doanh nghiệp khác, về hình thức là tư nhân, nhưng trên thực tế có mối quan hệ chặt chẽ và gần gũi với những người có thẩm quyền trong hệ thống nhà nước và lợi dụng mối quan hệ này để trục lợi thông qua việc đoạt được những hợp đồng béo bở hay những khoản tín dụng mềm.

Trong quá trình mở rộng phát triển của nhiều tập đoàn hiện nay cũng đã xuất hiện một số biểu hiện đáng báo động. Một “kịch bản” phổ biến khi mở rộng như vậy được miêu tả như sau. Tập đoàn nhà nước thành lập một công ty con, trong đó ban giám đốc của tập đoàn (còn gọi là công ty mẹ) và của công ty con nắm giữ một lượng cổ phiếu đáng kể của công ty con mới này. Một phần tài sản của tập đoàn (đất đai chẳng hạn) được chuyển cho công ty con dưới hình thức đầu tư hay góp vốn ban đầu. Khi cổ phiếu của công ty mới này được bán trên thị trường OTC hay trên thị trường chứng khoán thì những người chủ sở hữu của chúng sẽ hưởng lợi nhuận siêu ngạch từ việc ăn chênh lệch giá cổ phiếu (do khi cổ phần hóa doanh nghiệp bị định giá thấp hơn giá trị thị trường như trong trường hợp khách sạn Phú Gia Intimex). Trong thế giới mờ ám của những giao dịch nội gián như thế này, việc phân loại các nhóm sở hữu trở nên khó khăn. Những doanh nghiệp tư nhân giành được những “lô đất vàng” ở Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh chắc chắn phải có mối quan hệ mật thiết với một số quan chức nhà nước. Về bản chất, quá trình này không khác nhiều lắm so với quá trình bòn rút tài sản công thông qua tư nhân hóa đại trà ở Nga vào đầu những năm 1990, mặc dù ở Việt Nam, quá trình này xảy ra với tốc độ chậm hơn và mức tập trung của cải vào trong tay một thiểu số thấp hơn.

Một kịch bản thứ hai nhưng không kém phần đáng lo ngại là một số công ty con (đặc biệt là những công ty tài chính) mặc dù không thực sự có tài sản gì ngoài nhãn hiệu được thừa kế từ tập đoàn mẹ nhưng vẫn được IPO với những mức giá khổng lồ. Khi ấy, những nhà đầu tư nhỏ lẻ (nhiều người trong số họ đầu tư bằng những khoản tiết kiệm dành dụm cả đời) do thiếu thông tin vẫn cứ lao vào để cố mua bằng được chút ít cổ phiếu với giá thị trường giờ đã trở nên cao ngất, cao hơn nhiều lần so với giá trị danh nghĩa ban đầu. Kết quả là tiền của những nhà đầu tư nhỏ, thiếu thông tin và hiểu biết đã bị chuyển sang túi của những “đại gia”, đầy đủ thông tin nội bộ và mua được cổ phiếu ngay từ lần phát hành đầu tiên.52 Những hoạt động như thế này không thể bền vững, và sớm hay muộn thị trường cũng sẽ điều chỉnh. Hậu quả khi ấy không chỉ là nhiều nhà đầu tư nhỏ, thiếu thông tin mất tiền, mà họ còn mất luôn cả niềm tin vào hoạt động quản trị của doanh nghiệp và chính sách của nhà nước.

3.3. Môi trường kinh doanh

Môi trường chính sách là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo xếp hạng năng lực cạnh tranh hàng năm của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Việt Nam đứng dưới hầu hết các láng giềng Đông Á và Đông Nam Á. Mặc dù khi diễn giải các kết quả điều tra thuộc loại này cần phải rất thận trọng, bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh là một công cụ hữu ích trong việc đánh giá tốc độ cải cách của Việt Nam trong mối tương quan với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu. Quan trọng không kém, các nhà đầu tư nước ngoài đều nhìn vào những chỉ số về năng lực cạnh tranh và môi trường chính sách, thể chế trước khi ra quyết định đầu tư. Sự tăng nhẹ về thứ hạng của Việt Nam sẽ trở nên ít ý nghĩa nếu như những nước cạnh tranh với Việt Nam tăng nhanh hơn. Tôn Tử đã từng nói, tốc độ là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi.

Bảng 2: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2005, 2006

Sing-
ga-po
Hàn Quốc Hồng Kông Đài Loan Ma-lay
-xia
Thái Lan Trung Quốc In-đô-
nê-xia
Việt Nam Phi-lip-
pin

2007 *

7 11 12 14 21 28 34 51 64 67
2006 8 23 10 13 19 28 35 54 64 75
* : (trong số các nước được xếp hạng năm 2006)

FDI sẽ đóng một vai trò then chốt trong sự phát triển tiếp tục của Việt Nam. Tuy nhiên, để có thể tận dụng cao nhất hiệu ứng lan toả của FDI thì những khoản đầu tư này phải được gắn kết một cách hữu cơ với nền kinh tế. Điều này, đến lượt nó, yêu cầu Việt Nam phải đẩy mạnh việc phát triển một khu vực dân doanh năng động có khả năng hấp thụ công nghệ và kinh nghiệm quản lý và tích hợp vào hệ thống cung ứng rộng lớn hơn. Thế nhưng trên thực tế, một số cuộc điều tra về môi trường kinh doanh của Việt Nam đã cho thấy các doanh nghiệp dân doanh của Việt Nam đang gặp phải nhiều trở ngại để trở thành lớn mạnh và có sức cạnh tranh cao hơn. Bên cạnh hai cản trở lớn nhất là nguồn nhân lực và CSHT như đã được đề cập ở trên thì các doanh nghiệp dân doanh còn phải chịu đựng một hệ thống hành chính quan liêu kém hiệu quả và nhũng nhiễu (xem Hình 7). Theo các doanh nghiệp được khảo sát thì thuế vụ và hải quan là hai cơ quan gây cho họ nhiều khó khăn nhất. Những chi phí và nhũng nhiễu này có thể được coi như một thứ thuế “bất thành văn” đánh vào khu vực dân doanh và FDI – là hai khu vực xuất khẩu mạnh nhất của nền kinh tế.

Những lĩnh vực hiện nay Việt Nam đang có tính cạnh tranh nhất là hàng nông sản thô như cà phê, hạt điều, cao su, gạo hay hàng thâm dụng lao động như giày dép và dệt may. Đặc trưng chung của những ngành này là chúng tạo ra rất ít giá trị gia tăng, đem lại lợi nhuận rất mỏng, và tốc độ tăng trưởng rất thấp. Thách thức cho tương lai của Việt Nam là một mặt tiếp tục duy trì tính cạnh tranh trong những ngành này vì dù sao chúng cũng là thế mạnh của Việt Nam, mặt khác chủ động tiến tới sản xuất các sản phẩm và dịch vụ thâm dụng tri thức, lợi nhuận lớn và tốc độ tăng trưởng cao. Việt Nam có thể học được nhiều điều từ bí quyết thành công của các nước Đông Á, vì các nước này đều tập trung vào những sản phẩm mà nhu cầu co giãn cao đối với thu nhập, nghĩa là khi giàu lên người ta tiêu thụ nhiều hơn như hàng điện tử tiêu dùng chẳng hạn.53 Nền kinh tế Việt Nam hiện nay có tính cạnh tranh đối với các ngành công nghiệp tăng trưởng chậm và lợi nhuận thấp. Thách thức của Việt Nam trong tương lai là làm thế nào vươn tới các ngành tăng trưởng nhanh hơn, thâm dụng hơn về tri thức, và có giá trị gia tăng cao hơn.

Thêm vào đó, ngay cả những ngành công nghiệp cơ bản nhất cũng phải phụ thuộc vào nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu. Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu tới 80% sợi nguyên liệu cho ngành may và 65% bột giấy cho ngành giấy. Ngay cả khi Việt Nam có một trữ lượng lớn quặng thép thì tỷ lệ nhập khẩu phôi thép cũng lên tới 60%. Trong khi Đài Loan sử dụng các DNNN để đầu tư công nghiệp theo chiều sâu thì Việt Nam lại sử dụng các DNNN để cạnh tranh với các nhà chế biến hạ nguồn. Thêm vào đó, hầu hết các DNNN này hầu như không đầu tư cho hoạt động R&D, và đầu tư rất ít cho hoạt động đào tạo và nâng cao tay nghề.

4. Hệ thống tài chính

4.1. Sự xuất hiện lại của lạm phát

Kể từ khi kiềm chế được lạm phát phi mã vào giữa những năm 1980, Việt Nam đã thành công trong việc đạt được một tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao và ổn định. Cùng với quá trình phát triển và hội nhập của nền kinh tế, việc duy trì một môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh trở nên khó khăn hơn nhiều. Sự lúng túng của chính phủ trong việc đối phó với lạm phát thời gian qua chứng tỏ các nhà điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam chưa sẵn sàng, hoặc chưa được giao những công cụ chính sách và kỹ thuật cần thiết. Mặc dù Việt Nam có những nhà kinh tế học được đào tạo bài bản ở trình độ cao, nhưng sự thiếu vắng môi trường thảo luận, phân tích chính sách, sự chậm chạp của nhiều viện nghiên cứu và trường đại học trong việc đáp ứng nhu cầu của hoạt động ra chính sách là những trở ngại thực sự cho nỗ lực sử dụng năng lực có tính kỹ thuật để hoạch định chính sách. Kết quả là khoảng cách giữa nhu cầu cần phải có những chính sách tinh vi để điều hành nền kinh tế nay đã trở nên phức tạp hơn trước rất nhiều và năng lực thực sự của các nhà hoạch định chính sách ngày càng bị nới rộng.

Lạm phát giờ đây đã trở thành mối lo ngại của cả người dân lẫn chính phủ, một phần là do mức lạm phát thực tế cao hơn nhiều so với số liệu công bố chính thức. Chi tiêu trong nước đã tăng mạnh khi giá trị xuất khẩu dầu lửa tăng cao ngất, các khoản viện trợ phát triển chính thức, FDI, vay nợ và kiều hối vẫn tiếp tục ùn ùn đổ vào Việt Nam. Kể từ năm 2003, doanh số bán lẻ danh nghĩa của Việt Nam liên tục tăng với tốc độ trên 20% mỗi năm. Đầu tư tăng còn nhanh hơn nữa, trong khi lượng cung thực (đo bằng sản lượng thực cộng thâm hụt thương mại thực) chỉ tăng dưới 10% một năm. Nếu như chi tiêu tăng hơn 20%, trong khi lượng cung thực tăng chưa đến nửa số đó, thì chênh lệch giữa hai đại lượng phải là lạm phát.54 Mặc dù số liệu lạm phát công bố chính thức thấp hơn do dựa vào giá của một giỏ hàng hóa nhất định, nhưng từ những tính toán trên có thể khẳng định rằng trên thực tế, lạm phát đã lên tới mức hai con số, và đã duy trì ở mức hai con số trong mấy năm trở lại đây.

Đây không phải là một điều đáng ngạc nhiên. Tốc độ tăng cung tiền liên tục ở mức trên dưới 25% mỗi năm kể từ năm 2003, và tín dụng nội địa cũng tăng trên 35%. Trong khi nhập khẩu tăng đột biến trong mấy năm gần đây để đáp ứng với lượng cầu nội địa tăng thì đối với một số hàng hóa như khách sạn, văn phòng, điện, lao động có kỹ năng – hay nói chung là những hàng hóa chủ yếu được sản xuất trong nước – không thể tăng một cách tương ứng. Kết quả là giá của những hàng hóa này phải tăng theo tốc độ tăng cung tiền. Thế nhưng tại sao tốc độ tăng trưởng của Việt Nam lại chỉ tăng có 7-8% trong khi đầu tư hàng năm của nền kinh tế chiếm tới 35% GDP? Lưu ý là Đài Loan đã từng tăng trưởng tới 10% liên tục trong 18 năm với một lượng đầu tư khiêm tốn hơn nhiều, chỉ chiếm khoảng 1/4 GDP mà thôi.

Chính phủ Việt Nam đã quyết định tăng cung tiền nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian dài. Tuy nhiên, khi sự mất cân đối giữa tốc độ tăng cung tiền và tốc độ tăng trưởng GDP trở nên ngày một lớn thì sức ép lạm phát bắt đầu xuất hiện. Như được minh họa trong Hình 8, trong hai năm 2005 và 2006, GDP của Việt Nam tăng 17%, trong khi đó M2 (gồm tiền mặt trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng) tăng tới 73%. Trái lại, trong cùng giai đoạn này, GDP của Trung Quốc tăng 22% trong khi M2 chỉ tăng có 36%. Chênh lệch giữa tăng trưởng cung tiền và GDP ở Thái-lan còn thấp hơn nữa. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thấp hơn của Trung Quốc nhưng tốc độ tăng cung tiền lại cao gần gấp đôi. Kết quả là trong khi chỉ số giá tiêu dùng ở Trung Quốc trong năm 2007 chỉ khoảng 6,5% thì ở Việt Nam lên tới 12,6%.

Tại sao cung tiền của Việt Nam lại tăng nhanh như vậy? Một nguyên nhân chính là do nhịp độ tăng chi tiêu của nhà nước. Tổng chi tiêu của nhà nước trong năm 2006 là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 221.8 nghìn tỷ đồng (hay 45%) so với năm 2004. Như vậy, tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của nhà nước trong giai đoạn 2004-2006 là 20,3% năm (tương đương với tốc độ tăng trưởng doanh số bán lẻ). Cũng trong giai đoạn này, thu ngân sách tăng chủ yếu không phải từ nguồn thu nội địa mà là từ dầu mỏ, nợ và viện trợ nước ngoài. Thu nội địa trong năm 2004 chỉ đạt 119 nghìn tỷ, và trong năm 2006 là 190 nghìn tỷ, tăng có 71 nghìn tỷ. Trong khi đó, chi tiêu của nhà nước tăng 131 nghìn tỷ, từ 190 lên tới 321 nghìn tỷ, tức là gần gấp đôi mức tăng thu nội địa. Khi chi tiêu của nhà nước tăng nhanh hơn nhiều so với các nguồn thu ngoài dầu mỏ (ngay cả khi nguồn thu tăng này đến từ dầu mỏ hay viện trợ) thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu. Thế nhưng nếu các khoản chi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ đóng góp được chút đỉnh cho sản lượng (tức là không làm cho tổng cung tăng một cách tương ứng) thì tất yếu sẽ dẫn tới lạm phát.

Một số quan chức của chính phủ đã đổ lỗi cho các nhân tố khách quan như giá dầu, sắt thép, và thực phẩm thế giới tăng là thủ phạm của lạm phát. Đúng là các cú sốc về phía cung là một trong những nguồn gây nên lạm phát ở Việt Nam. Cho đến năm 2004, người tiêu dùng Việt Nam nói chung, và đặc biệt là người nghèo, đã được lợi do giá gạo thấp. Tuy nhiên, trong mấy năm trở lại đây, bên cạnh việc giá gạo tăng thì giá xăng dầu và giá phân hóa học cũng đều tăng cao. Những cú sốc toàn cầu này không chỉ ảnh hưởng riêng tới Việt Nam, mà còn tác động tới các quốc gia Châu Á khác, thế nhưng mức độ lạm phát ở các nước này lại thấp hơn ở Việt Nam rất nhiều (Hình 9). Điều này có nghĩa là, mặc dù việc giá thế giới tăng là một trong những nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam, nhưng nó không phải gốc rễ của vấn đề. Nếu cung tiền tăng chậm hơn thì chi tiêu của nhà nước cũng sẽ phải tăng chậm lại. Nếu giá xăng dầu tăng, chi tiêu của người tiêu dùng cho xăng dầu có thể sẽ tăng lên, và do vậy, họ sẽ phải cắt giảm tiêu dùng đối với các sản phẩm khác và làm cho giá của chúng giảm xuống. Việc mức lạm phát ở Thái-lan thấp hơn rất nhiều so với Việt Nam, trong khi trên thực tế, nền kinh tế Thái-lan tiêu thụ nhiều xăng dầu hơn Việt Nam là một minh chứng cho điều này.

4.2. Hiệu quả của đầu tư

Một chủ đề trung tâm của bài viết này là hiệu quả trong phân bổ nguồn lực sẽ quyết định kết quả của nền kinh tế, và rộng hơn, quyết định sự phát triển của xã hội. Việt Nam và Trung Quốc có cùng một vấn đề – đó là để đạt mục tiêu tăng trưởng, hai nước đều phải duy trì một tỷ lệ đầu tư rất cao. Thế nhưng rất nhiều khoản trên danh nghĩa được phân loại là đầu tư nhưng trên thực tế lại là những khoản tiêu dùng trá hình. Tham nhũng và lãng phí trong nhiều dự án đầu tư của nhà nước và của các DNNN làm dòng vốn thay vì phải chạy vào các dự án đầu tư thì lại chạy vào tiêu dùng hay tư túi cá nhân. Bên cạnh đó, nhiều dự án của nhà nước do không được hoạch định cẩn thận nên suất sinh lợi không cao. Nếu những khoản đầu tư này được tài trợ bởi tiền tiết kiệm trong nước thì nó sẽ làm mất cơ hội sinh lợi của các đồng tiết kiệm này ở các dự án khác. Còn nếu chúng được tài trợ thông qua các khoản vay nước ngoài thì nó sẽ tạo ra những nghĩa vụ trả nợ, được thực hiện từ nguồn tiền xuất khẩu, bán dầu lửa, cà phê, gạo, cao su và những hàng hóa khác trong tương lai. Trên nguyên tắc, những dự án này phải thúc đẩy được sản xuất và xuất khẩu. Trong trường hợp yêu cầu này không đạt được thì nó lại trở thành gánh nặng cho sự phát triển trong tương lai. Đây là một đặc điểm của các nền kinh tế ở Đông Nam Á vì những nước này đều cần đến một tỷ lệ đầu tư rất cao để có thể duy trì được một mức tăng trưởng vừa phải.

Bảng 3: Bảng so sánh ICOR

Nước

Giai đoạn

Tăng trưởng

GDP

(%/năm)

Tổng đầu tư

(% của

GDP/năm)

ICOR

Hàn Quốc

1961-80

7,9

23,3

3,0

Đài Loan

1961-80

9,7

26,2

2,7

In-đô-nê-xia

1981-95

6,9

25,7

3,7

Ma-lay-xia

1981-95

7,2

32,9

4,6

Thái lan

1981-95

8,1

33,3

4,1

Trung Quốc

2001-06

9,7

38,8

4,0

Việt Nam

2001-06

7,6

33,5

4,4

Một số người cho rằng việc hệ số ICOR ở Việt Nam cao là điều không thể tránh khỏi vì Việt Nam như một nền kinh tế “mới lớn”, phát triển rất nhanh và vì vậy cần nhiều đầu tư cho CSHT, công nghệ v.v. Quan điểm này dẫn chứng một thực tế là tuy hệ số ICOR của Việt Nam có cao nhưng cũng chỉ ở mức xấp xỉ với Trung Quốc – một nước đang phát triển nhanh nhưng vẫn còn nghèo như Việt nam – là điều bình thường. Lập luận này không chuẩn xác ở một số khía cạnh. Đầu tiên, lập luận này bỏ qua một thực tế là ở giai đoạn phát triển tương tự như Việt Nam, đầu tư của các nước Đông Á hiệu quả hơn Việt Nam rất nhiều (xem Bảng 3). Vào những năm 1970 khi Hàn Quốc bắt đầu phát triển các ngành công nghiệp nặng, đóng tàu và hóa chất – những ngành đòi hỏi đầu tư lớn – thì hệ số ICOR của nước này cũng chỉ ở mức trên dưới 3. Thứ hai, việc so sánh với Trung Quốc cũng không hoàn toàn thích hợp. Mặc dù cũng là một nước đang phát triển nhưng Trung Quốc đã đi trước Việt Nam gần 1 thập kỷ, và do vậy đáng lẽ ra hệ số ICOR của Việt Nam phải thấp hơn của Trung Quốc mới phải vì một nước càng giàu thì ICOR lại càng có xu hướng tăng. Đấy là chưa nói đến một thực tế là đầu tư của Trung Quốc cũng không thực sự hiệu quả, và vì vậy không nên được coi là một hình mẫu để noi theo và so sánh.

Liệu Việt Nam có đang đứng trước một cuộc khủng hoảng tài chính? Trong ngắn hạn, câu trả lời có lẽ là không. Tuy nhiên, nhiều dấu hiệu yếu kém từng là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng 1997 đang xuất hiện ở Việt Nam.

  1. Đầu tiên, mặc dù thị trường chứng khoán (TTCK) đã phát triển rất nhanh trong thời gian qua nhưng hệ thống tài chính của Việt Nam vẫn chịu sự chi phối bởi các ngân hàng thương mại không được kiểm soát một cách hiệu quả với lượng nợ xấu khá lớn.

  2. Thứ hai, đầu tư quá mức (gần 40% GDP) và hệ số ICOR 4,4 (có nghĩa là Việt Nam hiện cần 4,4 đơn vị đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng) là rất cao so với các nước khác trong khu vực ở những giai đoạn phát triển tương đương như Việt Nam bây giờ (hệ số ICOR trung bình của các nước trong khu vực là khoảng 3).

  3. Thứ ba, một lượng tiền lớn có nguồn gốc tham nhũng, rửa tiền, và đầu tư nước ngoài đang đổ vào thị trường bất động sản và chứng khoán, tạo nên bong bóng tài sản.

  4. Thứ tư, thâm hụt thương mại tăng nhanh và tỷ giá dao động bất thường (chủ yếu do quản lý kinh tế yếu kém) là những dấu hiệu của những rủi ro ngầm ẩn. Việt Nam cũng đang tích luỹ một lượng lớn nợ ngoại tệ không được phòng vệ. Tất cả những rủi ro trên chưa dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính là nhờ Việt Nam vẫn chưa tự do hóa tài khoản vốn, dư nợ nước ngoài ngắn hạn của Việt Nam còn ở mức kiểm soát được, và lượng vốn đầu tư nước ngoài vẫn đang tiếp tục đổ vào giúp cân đối lại phần nào cán cân tài khoản vãng lai.

Bảng 4: Liệu lịch sử có lặp lại? Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng 1997

Triệu chứng

Việt Nam năm 2007

Thâm hụt tài khoản vãng lai

Bong bóng tài sản

Vay ngoại tệ không phòng vệ

Hệ số ICOR cao

Đầu tư công kém hiệu quả

Kiểm soát bất cẩn đối với ngân hàng

Nợ xấu cao

Vay nợ chéo trong tập đoàn

Nợ nước ngoài ngắn hạn

Không

Tự do hóa tài khoản vốn

Không

Việt Nam đang nỗ lực xây dựng một hệ thống tài chính hiện đại vào một thời điểm tương đối thuận lợi khi thị trường vốn quốc tế, đặc biệt ở Châu Á đang có tính thanh khoản rất cao. Chỉ số EMBI của JP Morgan đo lường khoảng chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu của chính phủ Mỹ và của các nền kinh tế mới nổi hiện đang ở mức thấp nhất trong 10 năm trở lại đây (Hình 9).

Mặc dù thị trường vừa mới trải qua một số biến động do thị trường cho vay cầm cố bất động sản ở Mỹ sụp đổ nhưng chỉ số EMBI vẫn đang ở mức rất thấp cho đến cuối tháng 10. Chênh lệch lãi suất của trái phiếu quốc tế đầu tiên của Việt Nam được phát hành cuối năm 2005 (được kỳ vọng sẽ là cơ sở để các tập đoàn nhà nước vay vốn trên thị trường quốc tế) luôn thấp hơn mức EMBI trung bình. Điều này có nghĩa là các nước đang phát triển như Việt Nam có thể vay vốn từ thị trường quốc tế với mức lãi suất thấp, và đây thực sự là một cơ hội cho Việt Nam nếu việc tài trợ bằng vốn vay nước ngoài được thực hiện một cách cẩn trọng. Tuy nhiên, có một nguy cơ là chính phủ và các công ty trong nước sẽ trở nên phụ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nước ngoài, để né tránh những quyết định khó khăn hơn nhưng cần thiết để củng cố hệ thống tài chính trong nước. Theo phân tích ở Phần IV, các DNNN đang sử dụng vốn một cách kém hiệu quả. Nếu tình trạng này tiếp diễn và các doanh nghiệp này lại được phép tiếp cận với thị trường vốn quốc tế thì một rủi ro thực tế là Việt Nam sẽ phải trả một cái giá khá đắt cho những khoản vay không mang lại mấy giá trị. Bên cạnh đó, ngay cả trong giai đoạn thị trường thuận lợi thì nhà nước vẫn phải thận trọng trong việc giữ nợ ở mức kiểm soát được để tránh những cú sốc chắn chắn sẽ xảy ra trong tương lai. Điều này có nghĩa là cần giảm thâm hụt ngân sách nhà nước, thậm chí phải liên tục duy trì thặng dư ngân sách. Nhà nước phải chống lại “cám dỗ” của việc vay vốn nước ngoài để tài trợ thâm hụt ngân sách vì mặc dù vốn hiện nay đang rẻ nhưng không có bảo đảm chắc chắn rằng nó sẽ tiếp tục rẻ trong những năm tới.

5. Hiệu năng của Nhà nước

Các quốc gia Đông Á có một tầm nhìn chiến lược dài hạn và ý chí chính trị để có thể dự báo trước và phản ứng lại với các thách thức phát triển trước khi mọi sự trở nên quá muộn. Các nước này cũng ứng xử khá tốt trước các cuộc khủng hoảng bất ngờ. Thế nhưng Việt Nam từng thất bại hết lần này đến lần khác trong việc đưa ra những phản ứng chính sách thích hợp ngay cả đối với những vấn đề đã được dự báo từ trước. Việc phụ thuộc quá đáng vào thuỷ điện như đã đề cập ở trên là một ví dụ. Những nút ách tắc giao thông có nguy cơ trở nên kẹt cứng ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cũng đã được các nhà quy hoạch đô thị nhìn thấy từ 10 năm trước, thế nhưng cho đến tận thời điểm này, chính quyền ở hai đô thị lớn này vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu đề giải quyết vấn đề. Thực tế là TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội nổi lên trong số những thành phố ở Đông Nam Á như là hai đô thị không có một hệ thống giao thông công cộng hữu hiệu. Ở thời điểm hiện nay, các nhà quy hoạch của TP. Hồ. Chí Minh đang đặt hy vọng vào hệ thống tàu điện ngầm, mà trên thực tế sớm nhất là mươi năm nữa mới bắt đầu đi vào hoạt động. Ngập lụt lan tràn ở TP. Hồ Chí Minh trong mùa mưa – hệ quả của việc nhiều kênh rạch bị lấp trong nhiều năm trở lại đây – cũng là một nguy cơ được báo trước thế nhưng cũng không được chính quyền thành phố quan tâm giải quyết một cách thỏa đáng. Nhiều thành phố ở các quốc gia đang phát triển cũng đã từng gặp những vấn đề như thế này và những giải pháp hiệu quả của họ giờ đây đã trở nên nổi tiếng. Việc chính quyền không có khả năng ứng phó một cách có hiệu lực trước những nguy cơ được báo trước làm chúng ta nghi ngờ khả năng ứng phó của nó trước những tình huống khủng hoảng bất ngờ.

Một nghiên cứu gần đây của Ngân hàng Thế giới đã đánh giá chất lượng quản trị quốc gia của chính phủ 212 nước và vùng lãnh thổ dựa trên sáu tiêu chí: tính hiệu năng của chính phủ, chất lượng chính sách và hoạt động điều tiết, thượng tôn pháp luật, tham nhũng, tiếng nói và trách nhiệm giải trình, ổn định chính trị.55 Ngoại trừ tiêu chí về ổn định chính trị, điểm của Việt Nam về năm tiêu chí còn lại đều thấp hơn so với các nước ở Đông Á và Đông Nam Á (trừ In-đô-nê-xia). Về mặt phương pháp, cần lưu ý rằng các chỉ số này là những chỉ số so sánh. Tức là, việc một số chỉ số của Việt Nam (như tính hiệu năng của chính phủ) trong năm 2006 giảm so với 1996 không có nghĩa là Việt Nam đã thụt lùi về phương diện này. Sự suy giảm về điểm số chỉ chứng tỏ rằng mặc dù trên thực tế có thể Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể về phương diện quản trị quốc gia, thế nhưng các nước khác trong khu vực tiến bộ còn nhanh hơn.

Kinh nghiệm của những nhà nước thành công cung cấp cho Việt Nam một số gợi ý quan trọng trong nỗ lực cải cách hệ thống hành chính nhà nước. Mặc dù việc tổ chức lại các cơ quan hành chính (chẳng hạn như giảm số bộ hay thực hiện cơ chế “một cửa một dấu”) có thể có hiệu quả ở một chừng mực nào đó, nhưng suy cho cùng, hiệu quả thực sự chỉ có thể đạt được nếu như nhà nước chủ động giới hạn phạm vi chức năng của mình để có thể tập trung vào một số lĩnh vực then chốt mà chỉ nhà nước mới có thể thực hiện được. Trong nhiều năm trở lại đây, cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đã đầu tư nhiều cho hoạt động cải cách hành chính của Việt Nam. Sau nhiều năm nhìn lại, có vẻ như có một sự đồng thuận cho rằng những nỗ lực này đã không thành công vì nó chỉ làm mỗi một việc là đổ tiền vào những cơ quan hành chính hiện hữu mà không tìm cách thay đổi một cách cơ bản nội dung và cách thức thực hiện chức năng của các tổ chức này. Trong khi đó, một số cải cách do chính phủ Việt Nam chủ động khởi xướng và thực hiện lại thành công hơn nhiều. Luật Doanh nghiệp là một ví dụ như vậy. Tiếp nối tinh thần này, việc chính phủ Việt Nam đặt một ưu tiên rất cao cho hoạt động tiếp tục và tích cực cải cách DNNN là rất đáng hoan nghênh. Trong 20 năm qua, nền kinh tế và xã hội của Việt Nam giờ đây đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều, và đồng thời, Việt Nam ngày nay cũng phải đối diện với những thách thức rất tinh vi và phức tạp, đòi hỏi phải có những giải pháp mới. Tăng cường chất lượng của hệ thống giáo dục – đào tạo, hệ thống y tế, giải quyết khủng hoảng về CSHT, và vượt qua thách thức của đô thị hóa và suy thoái môi trường đòi hỏi một nhà nước mạnh hơn. Trên thực tế, khi nhà nước tự hạn chế phạm vi chức năng của mình thì nó có thể trở nên tốt hơn, đồng thời vai trò của nó sẽ được tăng cường chứ không hề suy giảm.

6. Công bằng

Về phương diện phát triển con người, Việt Nam đã đạt được những thành công vô cùng ấn tượng trong hai thập kỷ trở lại đây. Nếu căn cứ vào các chỉ số phát triển chủ yếu thì Việt Nam thậm chí còn vượt lên trên nhiều nước giàu có hơn. Tỷ lệ tử vong của trẻ em ở Việt Nam thấp hơn so với Thái-lan và Trung Quốc. Việt Nam cũng sẽ đạt được hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ trước thời hạn. Thành tích xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam cũng là một trong những kỷ lục khó vượt qua. Những thành tựu này là vô cùng ấn tượng. Tuy nhiên, cũng như trong phát triển kinh tế, trong sự nghiệp phát triển con người, thành công trong quá khứ không đủ để đảm bảo cho thành công trong tương lai. Đặc biệt, cuộc chiến chống đói nghèo sẽ trở nên khó khăn hơn. Mặc dù Việt Nam sắp sửa vươn tới mức thu nhập trung bình thấp nhưng một bộ phận lớn dân cư vẫn chưa được hưởng một mức sống “chấp nhận được” theo tiêu chuẩn quốc tế. Sự tính toán tỷ lệ dân số nằm dưới ngưỡng nghèo đói một cách rạch ròi không quan trọng bằng một thực tế là một phân lượng lớn người dân Việt Nam vẫn đang ở cận ngưỡng nghèo. Những người này có thể rơi xuống dưới ngưỡng nghèo bất kỳ lúc nào khi giá lương thực, thực phẩm tăng, khi nhà có người ốm, khi tiền học phí tăng, hay khi tiền thuê nhà ở khu vực đô thị đột nhiên tăng cao như trong mấy năm trở lại đây.

Nếu Việt Nam muốn duy trì ổn định xã hội trong 5-10 năm tới thì một điều chắc chắn là Việt Nam sẽ phải nỗ lực hết sức để đảm bảo rằng 30% dân cư nghèo nhất nước được chia sẻ thành quả của sự phát triển bằng cách quan tâm tới ba lĩnh vực trọng yếu: giáo dục, y tế, và lưới an sinh xã hội (social safety nets). Bài viết này đã nhấn mạnh giáo dục đại học, nhưng tất nhiên, giáo dục phổ thông và trung học cũng quan trọng không kém. Y tế là một điều kiện tiên quyết và thiết yếu đối với người lao động. Mặc dù các chỉ số cơ bản của Việt Nam tương đối cao so với các nước có mức GDP trên đầu người tương tự, Việt Nam vẫn còn cần và có thể cải thiện thêm nhiều. Trong mấy năm gần đây, người dân ngày càng phải tự gánh chịu một tỷ lệ chi phí y tế cao hơn. Hệ thống y tế ở tuyến xã và huyện nhìn chung rất kém khiến nhiều người không được tiếp cận ngay cả với những chăm sóc y tế sơ đẳng. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều gia đình ở nông thôn đã phải bán đến mảnh ruộng cuối cùng để trang trải chi phí y tế cao ngất so với khả năng chi trả của họ, với hy vọng cứu được người thân của mình và do vậy trở nên trắng tay. Cung cấp lưới an sinh xã hội cho người nghèo và dễ bị tổn thương là điều kiện cần thiết để đảm bảo mọi người dân được chia sẻ thành quả của phát triển, đồng thời cũng giúp cho sự phát triển trở nên hài hòa và bền vững hơn.

Khi thu nhập phi nông nghiệp tiếp tục tăng lên nhanh chóng, số gia đình sống ở khu vực đô thị cũng sẽ ngày một nhiều. Nhiều gia đình trong số này sẽ trở thành người “nghèo đô thị”, và tất nhiên là không có nhà riêng. Họ sẽ là những người cần lưới an sinh xã hội vì mạng lưới cộng đồng và thôn xóm trước đây đã không còn “chắc chắn” như trước nữa. Vì vậy, nhà nước cần tìm cách giúp những người nghèo đô thị này có bảo hiểm và các hình thức hỗ trợ khác. Một sự kết hợp giữa lưới an sinh tốt hơn được tài trợ bằng thuế đánh vào các nguồn tài sản mới (như bất động sản chẳng hạn) và các chính sách giúp người dân có thể có nhà riêng sẽ tạo nên một “khế ước xã hội” mới giúp đảm bảo sự ổn định trong tương lai. Sự công bằng này không phải là món đồ trang sức cho tăng trưởng, mà thực sự là một điều kiện tiên quyết để có thể duy trì tăng trưởng. Một khi đã rơi vào tình trạng chia rẽ về mặt xã hội (như đã gặp ở nhiều nước Đông Nam Á và Trung Quốc) thì để giải quyết một loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội do tình trạng này gây ra sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức. Nói cách khác, nên giải quyết những vấn đề này ngay trong quá trình phát triển chứ không nên để chúng xảy ra rồi mới lo đi giải quyết hậu quả.

Đọc đến đây, những người bị ru ngủ bởi những báo cáo đầy lạc quan của các nhà tài trợ sẽ thấy ngạc nhiên. Tuy nhiên, bằng chứng của những dấu hiệu bất bình đẳng ở Việt Nam đã xuất hiện. Một báo cáo gần đây của UNDP cho biết hệ số bất bình đẳng Gini của Việt Nam năm 2004 đã lên tới 0,41 khi loại trừ “tiền thuê nhà ngầm ẩn” trong các tính toán về thu nhập.56 Độ co giãn của việc làm so với tăng trưởng của Việt Nam là 0,4, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc và Đài Loan trong giai đoạn hai nước này tăng tốc công nghiệp hóa và thậm chí còn thấp hơn cả Trung Quốc. So với tất cả các nước trong khu vực (kể cả Trung Quốc), các hộ gia đình ở Việt Nam phụ thuộc nhiều hơn vào ngân sách gia đình để trang trải chi phí y tế.57 Trong khi đó, hệ thống bảo hiểm xã hội công cộng ở Việt Nam lại ưu ái người giàu hơn người nghèo.

Ở cấp độ cơ bản, thách thức về công bằng ở Việt Nam hiện nay là làm thế nào để khuyến khích tính cố kết xã hội và làm cho người dân có cảm giác mọi người cùng phụ thuộc vào vận mệnh chung của đất nước. Kinh nghiệm của các nước Đông Á cho thấy để thực hiện được mục tiêu này, việc tạo công ăn việc làm và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế đóng vai trò hết sức quan trọng. Công bằng và minh bạch trong cả khu vực công lẫn khu vực tư cũng quan trọng không kém. Địa vị công dân sẽ không có mấy ý nghĩa khi một số kẻ có thể sống và hành xử trên đầu những người khác chỉ vì họ được hậu thuẫn bởi các quyền lực kinh tế và thế lực chính trị. Việt Nam cũng phải xóa bỏ chế độ hộ khẩu vì chế độ này không còn phục vụ các chức năng kinh tế hay xã hội như trước đây nữa, mà trái lại đã trở thành một công cụ “hành dân” và từ chối quyền tiếp cận dịch vụ công chính đáng của người nhập cư.

Con đường mới

Lựa chọn Thành công

Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á
cho tương lai của Việt Nam

Một khuôn khổ chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho Việt Nam
trong giai đoạn 2011 – 20201

HARVARD UNIVERSITY
JOHN F. KENNEDY SCHOOL OF GOVERNMENT
CHƯƠNG TRÌNH CHÂU Á
79 John F. Kennedy Street, Cambridge, MA 02138
Tel: (617) 495-1134 Fax: (617) 495-4948

LTS. Tài liệu dưới đây là báo cáo tổng kết của một công trình nghiên cứu về Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam của một nhóm giáo sư, chuyên gia thuộc trường đại học Harvard. Công trình được thực hiện theo yêu cầu của chính thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, như một góp ý cho chính phủ trong quá trình xây dựng Chiến lược này, và được trao tận tay thủ tướng trong ngày 15.1 vừa qua.

Theo VnEconomy ngày 31.1.2007, thủ tướng đã có công văn yêu cầu Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng đề cương của Chiến lược, nhưng cho tới nay bản đề cương chưa được công bố, trong khi người ta có thể tìm thấy trên Internet rất nhiều đề cương phát triển của từng ngành (từ nông nghiệp, năng lượng, ngân hàng… cho tới bóng đá!) hay từng địa phương – xin gõ các cụm từ « chiến lược phát triển » và « 2010-2020 » trên Google.

Ngoài thông tin đã dẫn về buổi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp các giáo sư Harvard, người ta cũng không thấy trên báo chí trong nước (trừ một vài blogs) bài viết về công trình nghiên cứu rất công phu này và những ý kiến đóng góp rất thẳng thắn trong đó. Lý do hình như, một lần nữa, quá dễ hiểu : các báo được lệnh không đưa ra công khai cho dân biết, dân bàn về những thông tin, so sánh, những ý kiến phản biện có tính phê phán quá rõ ràng đối với những cách làm quy hoạch, chính sách quá thiên vị những lợi ích của một số nhóm đặc quyền đặc lợi kinh tế – chính trị đầy quyền uy hiện nay. Nhất là khi, trong phần « khuyến nghị » của công trình, các tác giả nói rõ về một điều kiện tiên quyết để Việt Nam có thể thành công trong chiến lược phát triển của mình thay vì rơi vào vết xe thất bại của vài nước láng giềng Đông Nam Á : một « quyết tâm chính trị » tiếp tục cải cách và chống lại những nhóm đặc quyền đặc lợi mà « mục tiêu không phù hợp với mục tiêu chung của quốc gia ».

Trong điều kiện đó, Diễn Đàn thấy cần tiếp tay với một số phương tiện truyền thông « không chính thức » trong nước, phổ biến toàn văn bản báo cáo quan trọng này.

Bài liên quan : phỏng vấn giáo sư David Dapice và tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, hai trong số những nhân vật đã tham gia chương trình nghiên cứu này.

Tổng quan

Đầu thập niên 1990, Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard xuất bản một cuốn sách nhan đề Theo hướng rồng bay. Mục đích của cuốn sách này là nhằm cung cấp một số khuôn khổ chiến lược giúp cho việc xác định các ưu tiên và đưa ra các quyết sách quan trọng trong bối cảnh kinh tế của Việt Nam và thế giới lúc bấy giờ. Thế giới đã đổi thay nhiều kể từ khi cuốn sách Theo hướng rồng bay ra đời. Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 đã phơi bày một số điểm yếu ẩn chứa bên trong mô hình phát triển của các nước Đông Á và Đông Nam Á. Quan trọng hơn, cấu trúc của nền kinh tế toàn cầu vẫn không ngừng biến chuyển và thay đổi với tốc độ ngày một nhanh hơn. Tự do hóa thương mại đã thực sự tạo ra thị trường toàn cầu cho các sản phẩm chế tạo và điều này cũng đang xảy ra với các sản phẩm dịch vụ. Hai thập kỷ của sáp nhập và mua bán công ty đã tạo ra những công ty toàn cầu khổng lồ đứng tại đỉnh của chuỗi cung ứng, thâm nhập sâu vào hệ thống sản xuất của cả nước đã và đang phát triển. Ngày nay, các nước đang phát triển không thể dựa vào những chiến lược công nghiệp hóa đã từng thành công trong quá khứ mà phải liên tục đánh giá lại thế vị của mình có tính đến những xu thế thay đổi rất nhanh trong đầu tư nước ngoài, thị trường tài chính, công nghệ, và nhân khẩu.

Về phía mình, Việt Nam đã thay đổi rất nhiều sau gần 20 năm với thành tích tăng trưởng cao và rất nhiều người dân Việt Nam đã thoát khỏi cảnh đói nghèo. Với tư cách một quốc gia, Việt Nam ngày càng nhận được sự nể trọng và có ảnh hưởng ngày càng lớn hơn trong cộng đồng quốc tế. Có được thành công này một phần là nhờ vào những quyết định sáng suốt của chính phủ trong việc giải phóng lực lượng sản xuất và hội nhập ngày càng sâu sắc hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Hệ quả tất yếu của những thay đổi chính sách này là nền kinh tế Việt Nam ngày nay đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều, đòi hỏi việc ra chính sách phải hết sức thận trọng và sáng suốt. Thế nhưng sự “quá tải” trong vai trò của nhà nước và sự xuất hiện của những nhóm đặc quyền được hưởng đặc lợi từ việc giữ nguyên trạng thái hiện tại làm cho quá trình hoạch định chính sách trở nên nặng nề và thiếu động cơ tiếp tục cải cách. Trái với tinh thần khẩn trương và cấp thiết của những năm đầu đổi mới, Việt Nam ngày nay đang được bao trùm bởi một bầu không khí thỏa mãn và lạc quan, được nuôi dưỡng bởi thành tích thu hút đầu tư nước ngoài và sự ngợi ca của cộng đồng quốc tế và các nhà tài trợ. Trong bối cảnh mới này, với tư cách là một nghiên cứu có tính định hướng về chiến lược kinh tế của Việt Nam thì nội dung của cuốn sách Theo hướng rồng bay không còn thích hợp nữa và cần được viết lại.2

Bài viết này trình bày một khuôn khổ chiến lược giúp Việt Nam xác định các ưu tiên và đưa ra các quyết sách kinh tế cho những năm đầu của thế kỷ 21. Một luận điểm quan trọng của bài viết này là Đông Á- được hiểu bao gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng-kông, và Sing-ga-po – nhìn chung đã thành công hơn so với các nước Đông Nam Á – bao gồm Thái-lan, In-đô-nê-xia, May-lay-xia, và Phi-lip-pin. Bài viết này xem Trung Quốc như một trường hợp đặc biệt: với vị trí địa lý, truyền thống văn hóa, tốc độ tăng trưởng rất nhanh, và chất lượng các trường đại học tinh hoa, Trung Quốc chắc chắn thuộc về mô hình Đông Á, thế nhưng đồng thời Trung Quốc cũng lại có những nhược điểm tương tự như của các nước Đông Nam Á. Đối với Việt Nam, một nước có nhiều điểm tương đồng trong chiến lược phát triển so với Trung Quốc thì ý nghĩa của phân tích này rất quan trọng. Việt Nam phải đi theo quỹ đạo phát triển của các nước Đông Á nhưng lại không được phép sử dụng những công cụ chính sách mà những nước này đã từng sử dụng trong quá trình công nghiệp hóa của chúng. Đáng tiếc là Việt Nam không những không rút được những bài học từ việc nghiên cứu các nền kinh tế đi trước, mà trái lại còn lặp lại nhiều sai lầm của các nước Đông Nam Á , Đông Á , và Trung Quốc. Một số người có thể cho rằng, việc bài viết này rút gọn 30 năm vào trong một vài nguyên lý cơ bản là một sự đơn giản hóa thái quá. Tuy nhiên, ở cấp độ chiến lược, kinh nghiệm của các nước Đông Á và Đông Nam Á cung cấp cho Việt Nam những bài học quan trọng mà Việt Nam không thể không nghiên cứu thật thấu đáo.

Một trong những chủ đề trọng tâm của bài viết này là quỹ đạo phát triển của Việt Nam trong tương lai phụ thuộc vào các quyết định hiện tại của nhà nước, và quỹ đạo này ngày càng trở nên khó vãn hồi. Những quyết định của ngày hôm nay sẽ định hình bối cảnh kinh tế chính trị của Việt Nam trong những năm, và thậm chí là những thập niên tiếp theo. Đặc biệt quan trọng, tiềm năng phát triển của Việt Nam trong tương lai phụ thuộc một phần lớn vào khả năng và ý chí của nhà nước trong việc xây dựng một “bức tường lửa” ngăn cách giữa quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị. Đặc trưng cơ bản của mô hình phát triển Đông Á (được thể hiện ở Hàn Quốc, Đài Loan, Sing-ga-po) là khả năng của nhà nước trong việc áp đặt kỷ cương đối với các nhóm lợi ích, nhất là khi các nhóm này cản trở nền kinh tế trở nên có tính cạnh tranh hơn. Trong mô hình Đông Á, sự ưu ái của nhà nước đối với một doanh nghiệp phụ thuộc vào thành công trong kinh doanh chứ không phải vào các mối quan hệ chính trị hay thân quen của nó. Chính phủ thường xuyên từ chối ký hợp đồng, cấp tín dụng và các phương tiện khác ngay cả với những tập đoàn có thế lực nhất về mặt chính trị khi chính phủ thấy rằng kế hoạch kinh doanh của những tập đoàn này không khả thi, không đem lại lợi ích xã hội, hay những dự án trước đây của chúng không được thực hiện một cách thỏa đáng. “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” phổ biến ở nhiều nước Đông Nam Á là thất bại của nhà nước trong việc xác định một ranh giới rạch ròi giữa những thế lực kinh tế và chính trị.

Chúng tôi không phải là những người duy nhất đưa ra nhận định này. Dự báo của Economist Intelligence Unit (EIU) cho rằng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ suy giảm mạnh kể từ 2010 trở đi. Theo EIU, “những nhóm có đặc quyền đặc lợi về chính trị có thể gây trở ngại cho cải cách và ngăn chặn quá trình cấu trúc lại một số doanh nghiệp nhà nước (DNNN), ảnh hưởng tới việc tăng cường năng lực cạnh tranh và hạn chế kết quả tăng trưởng của Việt Nam”.3 Theo dự báo của EIU thì trong giai đoạn 2011 – 2020, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam chỉ có thể duy trì ở mức 5,1% mỗi năm, thay vì mức trên 8% như hiện nay. Đánh giá này có thể làm cho các nhà lãnh đạo của Việt Nam ngạc nhiên, nhất là khi họ không ngớt nhận được những lời ngợi ca của các nhà tài trợ như Ngân hàng Thế giới, ngân hàng đầu tư, và báo chí quốc tế.4

Việt Nam cần hành động một cách quả quyết hơn nhằm ngăn chặn sự suy giảm tốc độ tăng trưởng do những tổ chức trung lập như EIU dự đoán. Chất lượng của đầu tư công là một chỉ báo then chốt cho sự thành công của chính phủ trong cải cách. Những người hay nhóm có thế lực chính trị thường lợi dụng các dự án đầu tư công để trục lợi cá nhân và trở lên giàu có một cách bất chính. Với tư cách là chủ đầu tư, nhà nước không thể cho phép các chương trình đầu tư của mình đi chệch khỏi mục tiêu tối đa hóa lợi ích của quốc gia. Khi đầu tư công trở thành đối tượng của các hành vi trục lợi thì một mặt mục tiêu của dự án đầu tư không được thực hiện, đồng thời gánh nặng chi phí sẽ được đặt lên vai của người dân và của nền kinh tế. Trên thực tế Việt Nam đang đánh mất một phần đáng kể nguồn lực của mình do lãng phí và tham nhũng. Công luận không ngớt đưa tin về những dự án cơ sở hạ tầng (CSHT) bị chậm tiến độ, đội giá, và chất lượng kém. Trong nhiều trường hợp, dự án được lựa chọn mà không hề căn cứ vào những tiêu chí kinh tế thích hợp. Ví dụ như Việt Nam đang đầu tư xây dựng mới rất nhiều cảng nước sâu dọc bờ biển miền Trung trong khi đó CSHT ở TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, và Bà Rịa – Vũng Tàu, nơi hấp thụ tới gần 60% lượng gia tăng dân số và lao động của cả nước, lại đang quá tải một cách trầm trọng nhưng không được đầu tư thỏa đáng. Dự án đầu tư 33 tỷ đô-la cho đường sắt cao tốc Bắc – Nam ở thời điểm hiện nay là quá sớm và vì vậy sẽ đóng góp không đáng kể cho tăng trưởng kinh tế, trong khi gia tăng gánh nặng nợ nần cho quốc gia và giảm cơ hội đầu tư cho các dự án khác cấp thiết hơn nhiều.

Nhiều cá nhân và nhóm có thế lực chính trị ở Việt Nam đang “hô biến” tài sản quốc gia thành sở hữu cá nhân thông qua những phi vụ đất đai mờ ám và cổ phần nội bộ. Ở Việt Nam, một đất nước có thu nhập bình quân đầu người khoảng 800 đô-la một năm nhưng giá đất lại đắt ngang với những nước giàu nhất thế giới. Không hiếm trường hợp các cá nhân giàu có kiếm được những khoản lợi nhuận kếch sù từ hoạt động đầu cơ bất động sản, và họ làm được điều này chủ yếu là nhờ hệ thống quy định và quản lý nhà nước quá yếu kém. Có doanh nghiệp kinh doanh bất động sản công khai tuyên bố: “nhờ quản lý quá kém, tôi làm giàu quá nhanh” . Cổ phần hóa các DNNN sẽ là một chủ trương đúng nhằm tăng cường hiệu quả và sức cạnh tranh cho khu vực kinh tế nhà nước nếu như quá trình này được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệm. Tuy nhiên, trên thực tế, cũng vì quản lý yếu kém nên cổ phần hóa trong nhiều trường hợp đã bị biến thành tư nhân hóa, giúp cho những người nắm quyền kiểm soát công ty trở nên giàu có trong khi tài sản của dân, của nước bị thất thoát nặng nề.

Hoạt động của hệ thống tài chính cũng phản ánh sự thất bại của Việt Nam trong việc tách bạch quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị. Trong khi khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra hơn 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp thì phần lớn tín dụng và đầu tư của nhà nước lại được giành cho khu vực kinh tế quốc doanh. Trong thời gian qua, giao dịch nội gián đã trở thành hiện tượng tương đối phổ biến trên thị trường chứng khoán, trong đó nạn nhân là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Đồng thời, các giám đốc và những người “chủ” doanh nghiệp vẫn tiếp tục lợi dụng kẽ hở của thị trường để trục lợi cho mình.

Bài viết này cũng phân tích vai trò trọng tâm của giáo dục trong mô hình phát triển của Đông Á để từ đó nêu bật lên sự cấp thiết phải cải cách toàn diện và triệt để nền giáo dục của Việt Nam. Mặc dù nội dung phân tích tập trung vào giáo dục đại học nhưng cần phải thấy rằng hệ thống giáo dục của Việt Nam đang bị khủng hoảng ở mọi cấp độ. Bài viết chỉ ra rằng chất lượng giáo dục đại học là một chỉ báo đáng tin cậy cho mức độ thịnh vượng về kinh tế. Từ thực tế này, tình trạng kém cỏi của các trường đại học Việt Nam so với hầu hết các trường đại học trong khu vực là một điều vô cùng đáng lo ngại. Tình trạng giáo dục hiện nay ở Việt Nam không chỉ là một trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế mà còn là mầm mống cho sự bất mãn về xã hội và bất ổn về chính trị trong tương lai.

Mặc dù những xu thế trên chưa đến mức nguy hiểm chết người nhưng để biến những tiềm năng to lớn của Việt Nam thành hiện thực thì nhà nước phải hành động tức thời và quả quyết trong một số lĩnh vực chính sách. Phần cuối của bài viết này được dành để thảo luận một số kiến nghị chính sách. Trong khuôn khổ có hạn, chúng tôi chỉ có thể thảo luận một số vấn đề quan trọng và có tính ưu tiên cao nhất mà không thể thảo luận một cách toàn diện mọi vấn đề của Việt Nam. Chúng tôi không hề né tránh những vấn đề có thể gây tranh cãi. Sự thực là, chính vì nhận thức được một cách hết sức rõ ràng về sự thiếu vắng của những tiếng nói phản biện chính sách với tinh thần xây dựng mà chúng tôi thực hiện bài viết này. Những chính sách có hiệu lực chỉ được ra đời từ những phân tích sâu sắc và thảo luận sôi nổi, có căn cứ.5 Nhiều quốc gia khác cũng đã từng trải qua một số thách thức mà Việt Nam đang gặp phải. Điều này có nghĩa là nhiều giải pháp và bài học đã có sẵn, thiếu chăng chỉ là một quyết tâm chính trị. Đây cũng chính là chủ đề quan trọng thứ hai của bài viết: bằng những lựa chọn (hay không lựa chọn) của mình, nhà nước Việt Nam sẽ quyết định tốc độ và triển vọng phát triển kinh tế của đất nước. Nói một cách khác, đối với Việt Nam, thành công là một sự lựa chọn trong tầm tay.

Nội dung

  • Phần 1. Câu chuyện về hai mô hình phát triển

    • I. Giới thiệu……..

    • II. Sự thành công của Đông Á và sự thất bại (tương đối) của Đông Nam Á

      • 1. Giáo dục………

      • 2. Cơ sở hạ tầng và Đô thị hóa….

      • 3. Doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế

      • 4. Hệ thống tài chính

      • 5. Hiệu năng của Nhà nước

      • 6. Công bằng

  • Phần 2. Trung Quốc: ý nghĩa xã hội của tăng trưởng

    • III. Trung Quốc ngày nay

  • Phần 3. Việt Nam: Đông Á hay Đông Nam Á

    • IV. Việt Nam: Đông Á hay Đông Nam Á?

      • 1. Giáo dục

      • 2. Cơ sở hạ tầng và đô thị hóa

      • 3. Các công ty có tính cạnh tranh quốc tế

      • 4. Hệ thống tài chính

      • 5. Hiệu năng của Nhà nước

      • 6. Công bằng

  • Phần 4. Duy trì tăng trưởng bền vững và công bằng

    • V. Tình trạng “lưỡng thể”: Nền kinh tế Việt Nam hiện nay

      • 1. Các nguồn tăng trưởng

      • 2. Những xu thế chủ yếu

      • 3. Chiến lược “những đỉnh cao chỉ huy” của nhà nước

      • 4. Đối diện với thách thức từ Trung Quốc

  • Phần 5. Khuyến nghị chính sách

    • VI. Điều kiện tiên quyết: Quyết tâm chính trị

    • VII. Khuyến nghị chính sách

      • 1. Giáo dục

        • 1. Cần công khai các ngân sách nhà nước dành cho giáo dục

        • 2. Thực hiện một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học

      • 2. Cơ sở hạ tầng và đô thị hóa

        • 1. Giải quyết tình trạng thiếu năng lượng

        • 2. Thành lập Hội đồng thẩm định đầu tư công độc lập

        • 3. Áp dụng thuế bất động sản

        • 4. Minh bạch hóa các quy định về đất đai

        • 5. Đầu tư thỏa đáng cho các thành phố

      • 3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

        • 1. Giải tán các tổng công ty và thận trọng với các tập đoàn

        • 2. Hỗ trợ khu vực dân doanh

        • 3. Thành lập Hệ thống Sáng tạo Quốc gia

      • 4. Hệ thống tài chính

        • 1. Giảm lạm phát

        • 2. Biến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành một ngân hàng trung ương thực thụ

      • 5. Hiệu lực của Nhà nước

        • 1. Loại bỏ những chính sách hoang đường

        • 2. Nâng cao năng lực kỹ trị

        • 3. Nhu cầu phân tích và thảo luận có tính phê phán trong nội bộ Chính phủ

        • 4. Đẩy mạnh giám sát từ bên ngoài

        • 5. Tăng cường tính chịu trách nhiệm của các nhà tài trợ

        • 6. Theo đuổi định hướng cải cách mạnh mẽ trong chiến lược 10 năm 2011 – 2020

      • 6. Công bằng

        • 1. Cải thiện chất lượng giáo dục

        • 2. Cải thiện chất lượng y tế

        • 3. Cải thiện khả năng sở hữu nhà cho người dân ở thành thị

        • 4. Trợ cấp cho hoạt động đào tạo nghề

        • 5. Tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn

Ai là người giàu nhất

Cho đến nay, Bill Gates vẫn được giới truyền thông không ngừng ca tụng và được coi là người đàn ông giàu nhất hành tinh với khối tài sản khổng lồ. Nếu tin rằng đó là sự thật thì có nghĩa là bạn đã bị lừa dối. Bởi vì bạn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được bóng dáng của các ông trùm thật sự giàu có trên bảng xếp hạng những người giàu nhất hành tinh này, còn giới truyền thông phương Tây thì đã bị những thế lực “vô hình” của các ông trùm kia khóa miệng. Cho đến ngày nay, gia tộc Rothschild vẫn theo đuổi ngành ngân hàng, nhưng nếu bất chợt hỏi 100 người dân ở Bắc Kinh hay Thượng Hải, bạn sẽ thấy rằng, có đến 99 người biết rất rõ về Ngân hàng Hoa Kỳ trong khi chẳng một ai biết được ngân hàng Rothschild là ngân hàng nào. Rốt cuộc, vậy ai là Rothschild? Nếu một người làm việc trong ngành tài chính mà chưa từng nghe đến cái tên Rothschild thì chẳng khác nào một người lính không biết Napoleon, sinh viên ngành vật lý không biết Einstein là ai vậy. Cái tên Rothschild hết sức xa lạ đối với đa số người dân Trung Quốc (cũng như với người Việt Nam), tuy nhiên, gia tộc này có một sức ảnh hưởng rất lớn đối với quá khứ, hiện tại và tương lai của người dân Trung Quốc cũng như người dân khắp nơi trên thế giới. Thông qua sự đối lập giữa tầm ảnh hưởng và mức độc nổi tiếng của của gia tộc Rothschild đối với thế giới hiện tại, ta có thể thấy khả năng giấu mình của dòng họ này cao siêu đến mức nào. Rốt cuộc thì dòng họ Rothschild có bao nhiêu tài sản? Đây vẫn là điều bí mật của thế giới. Theo tính toán sơ bộ thì con số đó là vào khoảng 500 tỉ USD! Vậy bằng cách nào mà dòng họ Rothschild đã kiếm được khoản tài sản khổng lồ như vậy? Đây là câu chuyện mà cuốn “Chiến tranh tiền tệ” sẽ giãi bày cùng bạn.