Con đường mới

Lựa chọn Thành công

Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á
cho tương lai của Việt Nam

Một khuôn khổ chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho Việt Nam
trong giai đoạn 2011 – 20201

HARVARD UNIVERSITY
JOHN F. KENNEDY SCHOOL OF GOVERNMENT
CHƯƠNG TRÌNH CHÂU Á
79 John F. Kennedy Street, Cambridge, MA 02138
Tel: (617) 495-1134 Fax: (617) 495-4948

LTS. Tài liệu dưới đây là báo cáo tổng kết của một công trình nghiên cứu về Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam của một nhóm giáo sư, chuyên gia thuộc trường đại học Harvard. Công trình được thực hiện theo yêu cầu của chính thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, như một góp ý cho chính phủ trong quá trình xây dựng Chiến lược này, và được trao tận tay thủ tướng trong ngày 15.1 vừa qua.

Theo VnEconomy ngày 31.1.2007, thủ tướng đã có công văn yêu cầu Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng đề cương của Chiến lược, nhưng cho tới nay bản đề cương chưa được công bố, trong khi người ta có thể tìm thấy trên Internet rất nhiều đề cương phát triển của từng ngành (từ nông nghiệp, năng lượng, ngân hàng… cho tới bóng đá!) hay từng địa phương – xin gõ các cụm từ « chiến lược phát triển » và « 2010-2020 » trên Google.

Ngoài thông tin đã dẫn về buổi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp các giáo sư Harvard, người ta cũng không thấy trên báo chí trong nước (trừ một vài blogs) bài viết về công trình nghiên cứu rất công phu này và những ý kiến đóng góp rất thẳng thắn trong đó. Lý do hình như, một lần nữa, quá dễ hiểu : các báo được lệnh không đưa ra công khai cho dân biết, dân bàn về những thông tin, so sánh, những ý kiến phản biện có tính phê phán quá rõ ràng đối với những cách làm quy hoạch, chính sách quá thiên vị những lợi ích của một số nhóm đặc quyền đặc lợi kinh tế – chính trị đầy quyền uy hiện nay. Nhất là khi, trong phần « khuyến nghị » của công trình, các tác giả nói rõ về một điều kiện tiên quyết để Việt Nam có thể thành công trong chiến lược phát triển của mình thay vì rơi vào vết xe thất bại của vài nước láng giềng Đông Nam Á : một « quyết tâm chính trị » tiếp tục cải cách và chống lại những nhóm đặc quyền đặc lợi mà « mục tiêu không phù hợp với mục tiêu chung của quốc gia ».

Trong điều kiện đó, Diễn Đàn thấy cần tiếp tay với một số phương tiện truyền thông « không chính thức » trong nước, phổ biến toàn văn bản báo cáo quan trọng này.

Bài liên quan : phỏng vấn giáo sư David Dapice và tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, hai trong số những nhân vật đã tham gia chương trình nghiên cứu này.

Tổng quan

Đầu thập niên 1990, Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard xuất bản một cuốn sách nhan đề Theo hướng rồng bay. Mục đích của cuốn sách này là nhằm cung cấp một số khuôn khổ chiến lược giúp cho việc xác định các ưu tiên và đưa ra các quyết sách quan trọng trong bối cảnh kinh tế của Việt Nam và thế giới lúc bấy giờ. Thế giới đã đổi thay nhiều kể từ khi cuốn sách Theo hướng rồng bay ra đời. Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 đã phơi bày một số điểm yếu ẩn chứa bên trong mô hình phát triển của các nước Đông Á và Đông Nam Á. Quan trọng hơn, cấu trúc của nền kinh tế toàn cầu vẫn không ngừng biến chuyển và thay đổi với tốc độ ngày một nhanh hơn. Tự do hóa thương mại đã thực sự tạo ra thị trường toàn cầu cho các sản phẩm chế tạo và điều này cũng đang xảy ra với các sản phẩm dịch vụ. Hai thập kỷ của sáp nhập và mua bán công ty đã tạo ra những công ty toàn cầu khổng lồ đứng tại đỉnh của chuỗi cung ứng, thâm nhập sâu vào hệ thống sản xuất của cả nước đã và đang phát triển. Ngày nay, các nước đang phát triển không thể dựa vào những chiến lược công nghiệp hóa đã từng thành công trong quá khứ mà phải liên tục đánh giá lại thế vị của mình có tính đến những xu thế thay đổi rất nhanh trong đầu tư nước ngoài, thị trường tài chính, công nghệ, và nhân khẩu.

Về phía mình, Việt Nam đã thay đổi rất nhiều sau gần 20 năm với thành tích tăng trưởng cao và rất nhiều người dân Việt Nam đã thoát khỏi cảnh đói nghèo. Với tư cách một quốc gia, Việt Nam ngày càng nhận được sự nể trọng và có ảnh hưởng ngày càng lớn hơn trong cộng đồng quốc tế. Có được thành công này một phần là nhờ vào những quyết định sáng suốt của chính phủ trong việc giải phóng lực lượng sản xuất và hội nhập ngày càng sâu sắc hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Hệ quả tất yếu của những thay đổi chính sách này là nền kinh tế Việt Nam ngày nay đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều, đòi hỏi việc ra chính sách phải hết sức thận trọng và sáng suốt. Thế nhưng sự “quá tải” trong vai trò của nhà nước và sự xuất hiện của những nhóm đặc quyền được hưởng đặc lợi từ việc giữ nguyên trạng thái hiện tại làm cho quá trình hoạch định chính sách trở nên nặng nề và thiếu động cơ tiếp tục cải cách. Trái với tinh thần khẩn trương và cấp thiết của những năm đầu đổi mới, Việt Nam ngày nay đang được bao trùm bởi một bầu không khí thỏa mãn và lạc quan, được nuôi dưỡng bởi thành tích thu hút đầu tư nước ngoài và sự ngợi ca của cộng đồng quốc tế và các nhà tài trợ. Trong bối cảnh mới này, với tư cách là một nghiên cứu có tính định hướng về chiến lược kinh tế của Việt Nam thì nội dung của cuốn sách Theo hướng rồng bay không còn thích hợp nữa và cần được viết lại.2

Bài viết này trình bày một khuôn khổ chiến lược giúp Việt Nam xác định các ưu tiên và đưa ra các quyết sách kinh tế cho những năm đầu của thế kỷ 21. Một luận điểm quan trọng của bài viết này là Đông Á- được hiểu bao gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng-kông, và Sing-ga-po – nhìn chung đã thành công hơn so với các nước Đông Nam Á – bao gồm Thái-lan, In-đô-nê-xia, May-lay-xia, và Phi-lip-pin. Bài viết này xem Trung Quốc như một trường hợp đặc biệt: với vị trí địa lý, truyền thống văn hóa, tốc độ tăng trưởng rất nhanh, và chất lượng các trường đại học tinh hoa, Trung Quốc chắc chắn thuộc về mô hình Đông Á, thế nhưng đồng thời Trung Quốc cũng lại có những nhược điểm tương tự như của các nước Đông Nam Á. Đối với Việt Nam, một nước có nhiều điểm tương đồng trong chiến lược phát triển so với Trung Quốc thì ý nghĩa của phân tích này rất quan trọng. Việt Nam phải đi theo quỹ đạo phát triển của các nước Đông Á nhưng lại không được phép sử dụng những công cụ chính sách mà những nước này đã từng sử dụng trong quá trình công nghiệp hóa của chúng. Đáng tiếc là Việt Nam không những không rút được những bài học từ việc nghiên cứu các nền kinh tế đi trước, mà trái lại còn lặp lại nhiều sai lầm của các nước Đông Nam Á , Đông Á , và Trung Quốc. Một số người có thể cho rằng, việc bài viết này rút gọn 30 năm vào trong một vài nguyên lý cơ bản là một sự đơn giản hóa thái quá. Tuy nhiên, ở cấp độ chiến lược, kinh nghiệm của các nước Đông Á và Đông Nam Á cung cấp cho Việt Nam những bài học quan trọng mà Việt Nam không thể không nghiên cứu thật thấu đáo.

Một trong những chủ đề trọng tâm của bài viết này là quỹ đạo phát triển của Việt Nam trong tương lai phụ thuộc vào các quyết định hiện tại của nhà nước, và quỹ đạo này ngày càng trở nên khó vãn hồi. Những quyết định của ngày hôm nay sẽ định hình bối cảnh kinh tế chính trị của Việt Nam trong những năm, và thậm chí là những thập niên tiếp theo. Đặc biệt quan trọng, tiềm năng phát triển của Việt Nam trong tương lai phụ thuộc một phần lớn vào khả năng và ý chí của nhà nước trong việc xây dựng một “bức tường lửa” ngăn cách giữa quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị. Đặc trưng cơ bản của mô hình phát triển Đông Á (được thể hiện ở Hàn Quốc, Đài Loan, Sing-ga-po) là khả năng của nhà nước trong việc áp đặt kỷ cương đối với các nhóm lợi ích, nhất là khi các nhóm này cản trở nền kinh tế trở nên có tính cạnh tranh hơn. Trong mô hình Đông Á, sự ưu ái của nhà nước đối với một doanh nghiệp phụ thuộc vào thành công trong kinh doanh chứ không phải vào các mối quan hệ chính trị hay thân quen của nó. Chính phủ thường xuyên từ chối ký hợp đồng, cấp tín dụng và các phương tiện khác ngay cả với những tập đoàn có thế lực nhất về mặt chính trị khi chính phủ thấy rằng kế hoạch kinh doanh của những tập đoàn này không khả thi, không đem lại lợi ích xã hội, hay những dự án trước đây của chúng không được thực hiện một cách thỏa đáng. “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” phổ biến ở nhiều nước Đông Nam Á là thất bại của nhà nước trong việc xác định một ranh giới rạch ròi giữa những thế lực kinh tế và chính trị.

Chúng tôi không phải là những người duy nhất đưa ra nhận định này. Dự báo của Economist Intelligence Unit (EIU) cho rằng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ suy giảm mạnh kể từ 2010 trở đi. Theo EIU, “những nhóm có đặc quyền đặc lợi về chính trị có thể gây trở ngại cho cải cách và ngăn chặn quá trình cấu trúc lại một số doanh nghiệp nhà nước (DNNN), ảnh hưởng tới việc tăng cường năng lực cạnh tranh và hạn chế kết quả tăng trưởng của Việt Nam”.3 Theo dự báo của EIU thì trong giai đoạn 2011 – 2020, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam chỉ có thể duy trì ở mức 5,1% mỗi năm, thay vì mức trên 8% như hiện nay. Đánh giá này có thể làm cho các nhà lãnh đạo của Việt Nam ngạc nhiên, nhất là khi họ không ngớt nhận được những lời ngợi ca của các nhà tài trợ như Ngân hàng Thế giới, ngân hàng đầu tư, và báo chí quốc tế.4

Việt Nam cần hành động một cách quả quyết hơn nhằm ngăn chặn sự suy giảm tốc độ tăng trưởng do những tổ chức trung lập như EIU dự đoán. Chất lượng của đầu tư công là một chỉ báo then chốt cho sự thành công của chính phủ trong cải cách. Những người hay nhóm có thế lực chính trị thường lợi dụng các dự án đầu tư công để trục lợi cá nhân và trở lên giàu có một cách bất chính. Với tư cách là chủ đầu tư, nhà nước không thể cho phép các chương trình đầu tư của mình đi chệch khỏi mục tiêu tối đa hóa lợi ích của quốc gia. Khi đầu tư công trở thành đối tượng của các hành vi trục lợi thì một mặt mục tiêu của dự án đầu tư không được thực hiện, đồng thời gánh nặng chi phí sẽ được đặt lên vai của người dân và của nền kinh tế. Trên thực tế Việt Nam đang đánh mất một phần đáng kể nguồn lực của mình do lãng phí và tham nhũng. Công luận không ngớt đưa tin về những dự án cơ sở hạ tầng (CSHT) bị chậm tiến độ, đội giá, và chất lượng kém. Trong nhiều trường hợp, dự án được lựa chọn mà không hề căn cứ vào những tiêu chí kinh tế thích hợp. Ví dụ như Việt Nam đang đầu tư xây dựng mới rất nhiều cảng nước sâu dọc bờ biển miền Trung trong khi đó CSHT ở TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, và Bà Rịa – Vũng Tàu, nơi hấp thụ tới gần 60% lượng gia tăng dân số và lao động của cả nước, lại đang quá tải một cách trầm trọng nhưng không được đầu tư thỏa đáng. Dự án đầu tư 33 tỷ đô-la cho đường sắt cao tốc Bắc – Nam ở thời điểm hiện nay là quá sớm và vì vậy sẽ đóng góp không đáng kể cho tăng trưởng kinh tế, trong khi gia tăng gánh nặng nợ nần cho quốc gia và giảm cơ hội đầu tư cho các dự án khác cấp thiết hơn nhiều.

Nhiều cá nhân và nhóm có thế lực chính trị ở Việt Nam đang “hô biến” tài sản quốc gia thành sở hữu cá nhân thông qua những phi vụ đất đai mờ ám và cổ phần nội bộ. Ở Việt Nam, một đất nước có thu nhập bình quân đầu người khoảng 800 đô-la một năm nhưng giá đất lại đắt ngang với những nước giàu nhất thế giới. Không hiếm trường hợp các cá nhân giàu có kiếm được những khoản lợi nhuận kếch sù từ hoạt động đầu cơ bất động sản, và họ làm được điều này chủ yếu là nhờ hệ thống quy định và quản lý nhà nước quá yếu kém. Có doanh nghiệp kinh doanh bất động sản công khai tuyên bố: “nhờ quản lý quá kém, tôi làm giàu quá nhanh” . Cổ phần hóa các DNNN sẽ là một chủ trương đúng nhằm tăng cường hiệu quả và sức cạnh tranh cho khu vực kinh tế nhà nước nếu như quá trình này được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệm. Tuy nhiên, trên thực tế, cũng vì quản lý yếu kém nên cổ phần hóa trong nhiều trường hợp đã bị biến thành tư nhân hóa, giúp cho những người nắm quyền kiểm soát công ty trở nên giàu có trong khi tài sản của dân, của nước bị thất thoát nặng nề.

Hoạt động của hệ thống tài chính cũng phản ánh sự thất bại của Việt Nam trong việc tách bạch quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị. Trong khi khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra hơn 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp thì phần lớn tín dụng và đầu tư của nhà nước lại được giành cho khu vực kinh tế quốc doanh. Trong thời gian qua, giao dịch nội gián đã trở thành hiện tượng tương đối phổ biến trên thị trường chứng khoán, trong đó nạn nhân là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Đồng thời, các giám đốc và những người “chủ” doanh nghiệp vẫn tiếp tục lợi dụng kẽ hở của thị trường để trục lợi cho mình.

Bài viết này cũng phân tích vai trò trọng tâm của giáo dục trong mô hình phát triển của Đông Á để từ đó nêu bật lên sự cấp thiết phải cải cách toàn diện và triệt để nền giáo dục của Việt Nam. Mặc dù nội dung phân tích tập trung vào giáo dục đại học nhưng cần phải thấy rằng hệ thống giáo dục của Việt Nam đang bị khủng hoảng ở mọi cấp độ. Bài viết chỉ ra rằng chất lượng giáo dục đại học là một chỉ báo đáng tin cậy cho mức độ thịnh vượng về kinh tế. Từ thực tế này, tình trạng kém cỏi của các trường đại học Việt Nam so với hầu hết các trường đại học trong khu vực là một điều vô cùng đáng lo ngại. Tình trạng giáo dục hiện nay ở Việt Nam không chỉ là một trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế mà còn là mầm mống cho sự bất mãn về xã hội và bất ổn về chính trị trong tương lai.

Mặc dù những xu thế trên chưa đến mức nguy hiểm chết người nhưng để biến những tiềm năng to lớn của Việt Nam thành hiện thực thì nhà nước phải hành động tức thời và quả quyết trong một số lĩnh vực chính sách. Phần cuối của bài viết này được dành để thảo luận một số kiến nghị chính sách. Trong khuôn khổ có hạn, chúng tôi chỉ có thể thảo luận một số vấn đề quan trọng và có tính ưu tiên cao nhất mà không thể thảo luận một cách toàn diện mọi vấn đề của Việt Nam. Chúng tôi không hề né tránh những vấn đề có thể gây tranh cãi. Sự thực là, chính vì nhận thức được một cách hết sức rõ ràng về sự thiếu vắng của những tiếng nói phản biện chính sách với tinh thần xây dựng mà chúng tôi thực hiện bài viết này. Những chính sách có hiệu lực chỉ được ra đời từ những phân tích sâu sắc và thảo luận sôi nổi, có căn cứ.5 Nhiều quốc gia khác cũng đã từng trải qua một số thách thức mà Việt Nam đang gặp phải. Điều này có nghĩa là nhiều giải pháp và bài học đã có sẵn, thiếu chăng chỉ là một quyết tâm chính trị. Đây cũng chính là chủ đề quan trọng thứ hai của bài viết: bằng những lựa chọn (hay không lựa chọn) của mình, nhà nước Việt Nam sẽ quyết định tốc độ và triển vọng phát triển kinh tế của đất nước. Nói một cách khác, đối với Việt Nam, thành công là một sự lựa chọn trong tầm tay.

Nội dung

  • Phần 1. Câu chuyện về hai mô hình phát triển

    • I. Giới thiệu……..

    • II. Sự thành công của Đông Á và sự thất bại (tương đối) của Đông Nam Á

      • 1. Giáo dục………

      • 2. Cơ sở hạ tầng và Đô thị hóa….

      • 3. Doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế

      • 4. Hệ thống tài chính

      • 5. Hiệu năng của Nhà nước

      • 6. Công bằng

  • Phần 2. Trung Quốc: ý nghĩa xã hội của tăng trưởng

    • III. Trung Quốc ngày nay

  • Phần 3. Việt Nam: Đông Á hay Đông Nam Á

    • IV. Việt Nam: Đông Á hay Đông Nam Á?

      • 1. Giáo dục

      • 2. Cơ sở hạ tầng và đô thị hóa

      • 3. Các công ty có tính cạnh tranh quốc tế

      • 4. Hệ thống tài chính

      • 5. Hiệu năng của Nhà nước

      • 6. Công bằng

  • Phần 4. Duy trì tăng trưởng bền vững và công bằng

    • V. Tình trạng “lưỡng thể”: Nền kinh tế Việt Nam hiện nay

      • 1. Các nguồn tăng trưởng

      • 2. Những xu thế chủ yếu

      • 3. Chiến lược “những đỉnh cao chỉ huy” của nhà nước

      • 4. Đối diện với thách thức từ Trung Quốc

  • Phần 5. Khuyến nghị chính sách

    • VI. Điều kiện tiên quyết: Quyết tâm chính trị

    • VII. Khuyến nghị chính sách

      • 1. Giáo dục

        • 1. Cần công khai các ngân sách nhà nước dành cho giáo dục

        • 2. Thực hiện một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học

      • 2. Cơ sở hạ tầng và đô thị hóa

        • 1. Giải quyết tình trạng thiếu năng lượng

        • 2. Thành lập Hội đồng thẩm định đầu tư công độc lập

        • 3. Áp dụng thuế bất động sản

        • 4. Minh bạch hóa các quy định về đất đai

        • 5. Đầu tư thỏa đáng cho các thành phố

      • 3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

        • 1. Giải tán các tổng công ty và thận trọng với các tập đoàn

        • 2. Hỗ trợ khu vực dân doanh

        • 3. Thành lập Hệ thống Sáng tạo Quốc gia

      • 4. Hệ thống tài chính

        • 1. Giảm lạm phát

        • 2. Biến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành một ngân hàng trung ương thực thụ

      • 5. Hiệu lực của Nhà nước

        • 1. Loại bỏ những chính sách hoang đường

        • 2. Nâng cao năng lực kỹ trị

        • 3. Nhu cầu phân tích và thảo luận có tính phê phán trong nội bộ Chính phủ

        • 4. Đẩy mạnh giám sát từ bên ngoài

        • 5. Tăng cường tính chịu trách nhiệm của các nhà tài trợ

        • 6. Theo đuổi định hướng cải cách mạnh mẽ trong chiến lược 10 năm 2011 – 2020

      • 6. Công bằng

        • 1. Cải thiện chất lượng giáo dục

        • 2. Cải thiện chất lượng y tế

        • 3. Cải thiện khả năng sở hữu nhà cho người dân ở thành thị

        • 4. Trợ cấp cho hoạt động đào tạo nghề

        • 5. Tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn

Advertisements

Săn lùng “sao”

Cách tốt nhất và nhanh nhất để tăng trưởng kinh doanh là “săn lùng” và tận dụng tối đa chất xám từ các nhân tài. Đúng như vậy, Tom Booney – sáng lập viên kiêm giám đốc quản lý của hãng tư vấn tài chính CMF Associates, Mỹ luôn khẳng định rằng: “Tôi không bao giờ ngừng nghỉ kiếm tìm nhân tài. Thậm chí cả khi không có nhu cầu, tôi vẫn luôn tìm kiếm họ.”

Bên cạnh việc tìm kiếm nhân tài, vấn đề đào tạo cũng luôn nằm ở vị trí quan trọng của nhà doanh nghiệp bang Philadelphia, Mỹ này, cho dù đó là đào tạo tập trung toàn thể nhân viên về các kỹ năng tư vấn kinh doanh hay cả những buổi trò chuyện, họp bàn về một bài viết mới trên Harvard Business Review.

Bước sang tuổi 43, Bonney tin rằng phát triển nhân viên luôn là trọng tâm trong các chiến lược kinh doanh của CMF Associates. Ông cho biết: “Kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, các khách hàng không ngừng nhắc nhở tôi mọi ngày về tầm quan trọng của các nhân viên có năng lực. Bạn phải thực sự có một đội ngũ nhân viên tốt”. Trong năm 2006, doanh nghiệp của Bonney chỉ có 12 nhân viên, đến nay con số này là 60.

Tuy nhiên, khi phải tìm kiếm và giữ chân các nhân viên tài năng, nhiều doanh nghiệp không được thông minh lắm. Hãng tư vẫn quản lý toàn cầu McKinsey & Co gần đây đã có cái nhìn khá mới mẻ về cách thức các doanh nghiệp đang quản lý những tài năng của mình và thấy rằng họ thực sự không hiệu quả trong việc tìm kiếm, động viên và giữ chân các nhân viên tốt hơn gì so với 10 năm trước đây.

Theo McKinsey, trong khi các nhà quản lý cấp cao tại những doanh nghiệp được điều tra coi trọng các nhân viên tài năng và xem đây như là những ưu tiên số một, số hai thì có đến 60% trong số họ phải thừa nhận rằng họ không có đủ thời gian cho phát triển nhân viên. Matthew Guthridge, giám đốc tư vấn tại McKinsey và đồng tác giả cuộc nghiên cứu cho biết: “Rõ ràng có hội chứng tâm thần phân liệt về việc các nhà quản lý nhìn nhận như thế nào về vấn đề này. Nó trải rộng trong nhiều doanh nghiệp khác nhau với nhiều nhà quản lý khác nhau”.

Vào cùng thời điểm, không ít các thách thức mới trong quản lý tài năng đang phát sinh tại nhiều doanh nghiệp. Ngày càng có nhiều người thích tìm kiếm một công việc mới hấp dẫn hơn công việc cũ. Các doanh nghiệp phải đi ra toàn cầu trên hành trình tìm kiếm những nhân viên mới, đào tạo và xây dựng môi trường làm việc thích hợp. Sau đó là bản thân công việc cũng ngày một đòi hỏi kiến thức lớn hơn, từ đây việc cần tới những nhân viên có khả năng thực thi tốt các công việc này là hết sức quan trọng.

Nghiên cứu của McKinsey cho rằng sự phát triển không ngừng được xem như một động cơ để giữ chân các nhân viên tài năng. Theo Richard Davis, một nhà tâm lý học quản lý và nhà tư vấn của doanh nghiệp tâm lý học tổ chức tại linh hoạt và thăng tiến hơn theo một vài cách thức nào đó.

Còn Guthridge cho rằng các doanh nghiệp tăng trưởng có một vài lợi thế trong cuộc chiến lôi kéo nhân viên ngày nay, chẳng hạn như khả năng đảm bảo cho nhân viên sự độc lập cao hơn, tính đa dạng công việc và những chức năng có tác động thực sự.

Nhưng các doanh nghiệp nhỏ cũng có các trở ngại, bao gồm một nhãn hiệu yếu hơn và các vị trí công việc rộng thường không phải lúc nào cũng vạch rõ một con đường sự nghiệp rõ ràng và có thể được nhìn nhận khá tiêu cực bởi những nhân viên trẻ đang khát khao nhận ra một đường hướng công việc nào đó theo đúng mong muốn. Guthridge cho rằng sự đa dạng trong các lựa chọn tại những doanh nghiệp nhỏ có thể được xem như một hạn chế.

Tháng 9 năm ngoái, Ken Sawka đã thực thi nhiều cách thức khác nhau để phát triển một nhân viên tài năng có bằng MBA mà doanh nghiệp tư vấn chiến lược và hoạch định cạnh tranh của ông, Outward Insights, mới tuyển vào vị trí tư vấn viên.

Sawka vạch ra một chương trình phát triển 6 tháng cho nhân viên trẻ này, bao gồm tham gia nhiều cuộc hội thảo và hội nghị chính thức khác nhau cũng như các lần gặp gỡ và đào tạo trực tiếp với những chuyên gia hàng đầu trong ngành. Sawka xem công việc ban đầu của một nhân viên là học hỏi và phát triển nhiều hơn là phục vụ khách hàng.

Bản thân Sawka cũng hiểu rằng một người chủ doanh nghiệp cần cảm nhận được những kỹ năng mà nhân viên của mình muốn học hỏi. Sawka, sau khi vừa có được hợp đồng trị giá 1 triệu USD, cho biết: “Mọi việc khá tốt đẹp. Khả năng làm việc và tác động của nhân viên này đối với các dự án của doanh nghiệp được cải thiện đáng kể”.

Nếu muốn trở thành Microsoft hay Starbucks tiếp theo, doanh nghiệp sẽ cần tới một chiến lược quản lý nhân sự dài hạn. Nghiên cứu của McKinsey khuyến nghị các chủ doanh nghiệp nên bắt đầu bằng việc tái xác định lại vấn đề giá trị các nhân viên – những lý do tại sao một nhân viên tài năng và nhiệt huyết lại muốn làm việc cho doanh nghiệp và đóng góp công sức lâu dài.

Hãy suy nghĩ về ước mơ và giá trị của các nhân viên tại công sở của doanh nghiệp mình, từ các nam nữ nhân viên trẻ tuổi, các nhân viên cao tuổi, nhân viên toàn thời gian hay bán thời gian,… để từng nhu cầu của mỗi người đều được đáp ứng.

Theo Guthridge, mỗi một nhóm nhân viên sẽ có các mong muốn, quan tâm và nhu cầu khác nhau. Trừ khi doanh nghiệp có thể đưa ra những lựa chọn đa dạng khác nhau, còn bằng rất khó để thu hút và giữ chân các tài năng tốt.

Việc tuyển dụng các nhà quản lý bậc trung có khả năng nhận ra và phát triển tiềm năng của những nhân viên ở mọi cấp độ khác nhau cũng là trọng tâm trong một chiến lược quản lý nhân sự dài hạn.

Bonney sử dụng nhiều phương pháp đào tạo khác nhau đối với những nhân viên B của doanh nghiệp – những người không ở trên con đường nhanh chóng tới các vị trí quản lý. Ông cho rằng thách thức lớn đối với các chủ doanh nghiệp đó là có một quy trình A với một nhân viên B để có được các kết quả A.

Những doanh nghiệp thành công nhất biết rằng các chiến lược kinh doanh và chiến lược nhân sự có mức độ quan trọng như nhau. Kinh doanh chính là các nhân viên và ngược lại. Đúng như nhận định của Guthridge: “Các doanh nghiệp không thể phân tách nhu cầu tăng trưởng kinh doanh khỏi con số các nhân viên họ cần tuyển dụng. Và đây chính là bản chất cốt lõi mà các chiến lược nhân sự cần hướng tới”

Theo http://bwportal.com.vn

Chuyên gia Morgan Stanley: VN khác Thái Lan năm 1997

Không thể đơn giản so sánh những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam hiện nay với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của Thái Lan năm 1997-1998.

Chuyên gia kinh tế hàng đầu của Công ty Morgan Stanley Phùng Tịnh cho rằng không thể đơn giản so sánh những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam hiện nay với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của Thái Lan năm 1997-1998 và càng khó để nói Việt Nam sẽ là xuất phát điểm cho một cuộc khủng hoảng tài chính châu Á mới.Ông Phùng Tịnh nêu rõ mặc dù hệ thống ngân hàng nhà nước và doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam đang có những vấn đề lớn nhưng không xuất hiện dấu hiệu suy thoái toàn diện và phá sản với quy mô lớn.

Theo ông, vốn nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 20%, tương đương khoảng 6 tỷ USD, và nếu số vốn này lập tức rút khỏi Việt Nam thì ảnh hưởng của nó cũng không lớn lắm.

Ngoài ra, nợ nước ngoài ngắn hạn của Việt Nam hiện khá nhỏ, vì khoảng 90% nợ nước ngoài của Việt Nam là các khoản nợ dài hạn, do vậy Việt Nam không chịu sức ép trả nợ ngắn hạn. Ngoài ra, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam hiện nay khá linh hoạt và niềm tin của chủ đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam chưa có dấu hiệu sói mòn.

Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo, nếu đồng nội tệ tiếp tục mất giá, lạm phát tiếp tục leo thang và Chính phủ Việt Nam không có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn thì khủng hoảng và đổ vỡ kinh tế là điều khó nói trước.

Theo TTXVN

BMW GINA – ánh sáng huyền ảo

(Nguoilanhdao) – Hãng BMW tiết lộ sẽ sản xuất một model mới có tên gọi GINA “ánh sáng huyền ảo”, được thiết kế với phong cách và cấu trúc hoàn hảo, tinh tế hơn. GINA có nghĩa là : “hình học hoàn hảo và đáp ứng mọi sự thích nghi”.


>>Sự trở lại của một Lancia Delta đầy quyến rũ

BMW chứng tỏ nguyên tắc thiết kế chiếc xe này hoàn toàn dựa trên kĩ thuật hiện đại và xu hướng trong tương lai. Chính lí do đó khiến GINA trở thành một thiết kế độc đáo, với những chi tiết, thiết bị cầu kì.

GINA là kết quả của quá trình nghiên cứu, sáng tạo bởi những kĩ sư, nhà thiết kế giỏi. Nếu chú ý sẽ thấy một số điểm tương đồng giữa GINA và Z4.

Yếu tố khiến GINA trở nên nổi bật so với những chiếc xe khác là bề mặt ngoài của xe, vị trí hai ghế ngồi cách nhau một khoảng rất rộng khác hẳn với tiêu chuẩn thiết kế ô tô. GINA cũng có những thay đổi  ở các thiết bị cao cấp như: tấm chắn gió mặt trước, cửa xe, mui xe, nắp đậy phía sau xe, khung bánh xe.

Hãng BMW cho rắng tất cả các yếu tố ảnh hưởng và tác động mạnh đến xe đã góp phần tạo nên độ bền cao, vững chắc cho cấu trúc kim loại.

Khi những cánh cửa được mở ra, lớp ngoài của ô tô sẽ nhăn và gập lại, kết quả là những phân tử tự nhiên trên lớp vỏ ngoài ô tô trở nên mềm dẻo, linh hoạt hơn và có thể tách mui trông rất đẹp. Hiện nay hầu hết trong các mẫu thiết kế ô tô không sử dụng lớp vở bọc này bởi rất khó để tìm ra nguyên liệu.

Hãng BMW khẳng định việc sử dụng lớp vỏ bọc bắng nguyên liệu vải này sẽ tạo nên tác động qua lại đặc biệt giữa người điều khiển và ô tô cho phép chiếc xe di chuyển nhanh hơn nhờ có lớp vỏ xe nhẹ.

Nhất là khi bật đèn lên, một vài đường nét trên lớp vỏ xe sẽ thay đổi và không ngừng hoạt động.

Đặc điểm phía sau xe cho phép ô tô tự động điều chỉnh đô nâng của xe, hay giảm áp lực khi đang ở tốc độ cao. Sự sắp xếp vị trị thiết bị bên trong xe không gây ảnh hưởng hay làm thay đổi vị trí nâng độ cao của xe,  đảm bảo duy trì độ nâng lên hạ xuống khi di chuyển trên mọi con đường.

Sử dụng nguyên liệu này đem đến nhiều lợi ích như có thể giảm nhiệt độ của xe xuống thấp hơn, ngăn không cho nước thấm sâu vào bên trong xe.

Tuấn Anh

Posted in Tin Tuc. Tags: , , . Leave a Comment »

MỤC ĐÍCH CUẢ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

BS HỒ ĐẮC DUY

Trong quan niệm triết học Phương Đông khái niệm về vũ trụ là một khái niệm vạn vật đồng nhất thể, đó là hình ảnh của thái cực bao gồm âmvà dương, là hai mặt đối lập nhau như trời và đất, nước và lửa, nam và nữ …

Hình ảnh giới tính đã bắt nguồn từ cái Âm và dương .

Sự hoà hợp giữa âm và dương là điều kiện hoàn hảo cho sự trường tồn của vũ trụ và hạnh phúc của con người.

Sự hoà hợp giữa người nam và người nữ là mấu chốt của cuộc sống

Học được sự hoà hợp đó là mục đích của giáo dục giới tính.

Trong truyền thuyết của nền văn hoá Việt Nam, sự tích “bánh chưng bánh dày” đã nói lên hết cái quan niệm về vũ trụ của dân tộc Việt. Trong các bi ký của Champa thì Linga và Youni là biểu tượng của âm và dương, các triết gia thời xưa đặt vấn đề giới tính thành ra một thứ tôn giáo, các bạn có thể tìm thấy những biểu tượng này trong các viện bảo tàng ở TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẳng. Linga là hình ảnh của một dương vật được thờ phượng,

Giáo dục giới tính là dạy cho người ta biết các bí quyết của sự hoà hợp giữa âm và dương, biết các khái niệm thế nào là nam thế nào là nữ (giới tính) khái niệm về tính dục và nhân cách, để cho con người phát triển một cách toàn diện.

Sự hình thành và phát triển nhân cách cùng các mối quan hệ của con người bị chi phối và ảnh hưởng bởi các yếu tố sinh học, tâm lý, tính dục, tinh thần, môi trường, truyền thống văn hoá xã hội.

Tính dục là tổng thể con người bao gồm các khía cạnh đặt trưng nam hay nữ, đàn ông hay đàn bà và biến động suốt đời.

Tính dục không thuần chỉ bản chất sinh dục mà nó là một trong số hình ảnh của nhân cách con người.

Giáo dục giới tính là một khoa học và nghệ thuật dạy cho con người có đạo đức và hành vi lành mạnh, xây dựng một nhân cách phù hợp với mong muốn của xã hội và hình thành mối quan hệ có trách nhiệm trong tình bạn cũng như tình yêu.

Đời sống tình dục phục tùng các quy luật tự nhiên, mà quy luật tự nhiên đôi khi lại khác biệt với quy luật xã hội. Tình dục đóng một vai trò chủ yếu trong cũng cố hôn nhân và truyền giống.

Giáo dục giới tính sẽ làm thăng hoa tình yêu. Tình yêu là sự hiến dâng là sự hy sinh tận tụy, là ý thức có trách nhiệm, là sự tôn trọng, sự hiểu biết cảm thông giữa hai người. Muốn thực hiện được điều đó thì việc mang lại phổ biến các kiến thức chuyên môn về cơ thể học, sinh lý học, tâm lý và các vấn đề liên quan đến đời sống tình dục phải được trình bày thảo luận một cách công khai, có trình độ chuyên môn dựa trên những nghiên cứu thực tiễn, tr6en các kinh nghiệm của cuộc sống bằng ngôn ngữ và diễn đạt khoa học.

Từ trước, rải rác trong tạp chí “Thế giới mới” chúng tôi có lựa chọn vài vấn đề trong toàn bộ giáo dục giới tính để sửa soạn cho một mục riêng bàn về vấn đề này với quý vị độc giả.

Giáo dục giới tính hiện nay đã trở thành một nhu cầu cấp bách của xã hội

Đối với chúng ta Giáo dục giới tính là một môn học còn mới lạ, nó chưa được đưa vào dạy một cách có bài bản ở các trường đại học Y Khoa, nó chỉ mới được lồng ghép vào các môn Sản phụ khoa, Nam khoa, Tâm lý….Ở bậc trung học thì đang dạy thử nghiệm ở vài trường chỉ có tính cách thông tin về dân số và sức khỏe sinh sản, các biện pháp sinh hoặt tình dục an tòan để tránh lây nhiễm HIV, Còn ngòai xã hội, trong các cơ sở tôn giáo, trong các câu lạc bộ Hôn nhân và Gia đình, hay trong các tạp chí người ta chỉ nói một các mơ hồ chưa dám trình bày một cách rỏ ràng khoa học mà chỉ nói chung chung trong các lớp dự bị hôn nhân hay trong cách giao tiếp, ứng xữ…..đó không phải là Giáo Dục Giới Tính đích thực

Giáo dục giới tính phải bắc đầu bằng giáo dục gia đình, vai trò của cha mẹ, truyền thống, đạo đức, luật pháp của từng quốc gia,sau đó là các kiến thức về cơ thể học sinh lý học, các kỷ năng của con người để bước vào quan hệ tình dục một cách có trách nhiệm, các thông tin về tính dục và sinh sản,các hệ lụy phát sinh từ sinh hoặt tình dục …. Vì có các nét đặc thù của từng khu vực cho nên không thể áp đặt chương trình Giáo dục giới tính của quốc gia này lên quốc gia khác được.

Bước vào năm 2000 với vô số các thay đổi của xã hội chúng ta phải đương đầu với những đòi hỏi của thời đại trong đó tình dục học sẽ là một môn học phải được dạy ngay từ bậc tiểu học

Gia đình là một phần tử của xã hội, hiện tại gia đình được hình thành do sự chọn lựa, quyết định của hai cá nhân trên cơ sở tự nguyện và tình yêu lứa đôi không như các thập kỷ trước .

Giáo dục giới tính cần thiết cho cá nhân và xã hội :

Liệu những người trẻ tuổi sắp sửa lập gia đình đã hiểu rõ các kiến thức căn bản về giới tính và hôn nhân chưa ?

Giúp cho họ rèn luyện tư tưởng, trau dồi kiến thức, xây dựng nhân cách cho phù hợp với giới tính, hiểu thế nào là tình yêu đích thực, bí quyết xây dựng hạnh phúc gia đình…có lẽ điều mà xã hội cần phải quan tâm

Đa số các vụ ly dị, ly hôn đều có nguyên nhân phần lớn là trục trặc về đời sống tình dục .

Trước hành vi tình dục quá sớm của lứa tuổi thanh thiếu niên như tình trạng co thai, phá nạo thai của các em gái chưa trưởng thành, các bệnh lây qua đường tình dục, nhiễm HIV các tình trạng bạo lực tình dục, ly hôn, ly dị, con không thừa nhận hay bùng nỗ dân số thì xã hội phải đối phó như thế nào ?

Giáo dục giới tính sẽ là một vũ khí chiến lược hổ trợ trong việc giáo dục tòan diện, kiễm sóat dân số, bảo vệ sức khỏe và phát triễn cho mọi người sẽ giúp cho xã hội bớt đi một gánh nặng không đáng có

Chúng tôi mong muốn nhận được tất cả các góp ý, tham luận của các bạn độc giả và các bạn có cùng quan tâm đến vấn đề này

Email : hodacduy@saigonnet.vn

Bs Hồ Đắc Duy

“Lần đầu”: Quá sớm hay muộn đều không tốt!

Theo các nhà khoa học này, trung bình, những người khoảng 17,18 tuổi là có thể bắt đầu cuộc sống tình dục…

Theo kết quả nghiên cứu của một số chuyên gia tình dục học tại Mỹ thì những người bắt đầu cuộc sống tình dục sớm quá hoặc muộn quá bao giờ cũng phải đối mặt với những trục trặc không mong muốn trong “chuyện ấy” nhiều hơn hẳn những người bình thường. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, một số nhà khoa học đã khẳng định, việc quan hệ tình dục khi chưa đủ tuổi hoặc đã “quá lứa lỡ thì” sẽ để lại nhiều biến chứng trong đời sống sau này.


Các số liệu thống kê cho thấy, những người mất “cái ngàn vàng” quá sớm sẽ rất dễ đối mặt với các bệnh lây lan qua đường sinh dục. Không những thế, họ còn có xu hướng có nhiều bạn tình và thường quan hệ trong trạng thái hưng phấn hơn hẳn những người bình thường. Trong khi đó, với những người có “lần đầu tiên” khá muộn, thì thường lại phải đối mặt với sự rối loạn tình dục khá thường xuyên. Chẳng hạn, nam giới nếu quan hệ muộn thường sẽ gặp phải trục trặc trong chuyện cương dương.

Cũng theo các nhà khoa học này, trung bình, những người khoảng 17,18 tuổi là có thể bắt đầu cuộc sống tình dục. Tuổi 14 hoặc trẻ hơn được coi là quá sớm. Trong khi tuổi từ 22 trở lên hoặc muộn hơn được coi là đã muộn.

Theo VTV

Thời của phim sex ‘tự biên tự diễn’ trên mạng

Máy ảnh, điện thoại camera ngày một rẻ, các dịch vụ chia sẻ video được tiếp sức bởi kết nối băng rộng… đã giúp giới quay phim nghiệp dư làm ngập lụt thế giới “cấm trẻ em dưới 18 tuổi” bằng các sản phẩm siêu rẻ, thậm chí miễn phí.

Không như nhiều nội dung giải trí khác, người xem phim khiêu dâm chẳng mấy băn khoăn khi từ bỏ các hãng sản xuất phim trên đĩa DVD cùng những “quả bom sex” tên tuổi để quay sang tìm kiếm đoạn clip tự quay của một người họ chưa hề nghe nói tới.

“Người ta đang tự làm video tại nhà và đăng chúng lên các trang web miễn phí. Điều này sẽ sớm giết chết thị trường phim sex”, Harvey Kaplan, Giám đốc điều hành GoGoBill.com, nhận xét. “Người sử dụng giờ không cần rời khỏi nhà để đi mua đĩa, họ có thể xem thoải mái mà không sợ bị ai nhòm ngó với chiếc PC kết nối Internet của mình”.

Trong khoảng 2 năm trở lại đây, khá nhiều biến thể “mát mẻ”, hoạt động tương tự YouTube, đã xuất hiện trên mạng. Chẳng hạn, trang Por…Tube, nơi mọi người chia sẻ video sex do họ tự tạo, mới được thành lập chưa đầy 1 năm nhưng đã thu hút 10 – 15 triệu lượt truy cập mỗi ngày và nằm trong danh sách 200 website phổ biến nhất theo đánh giá của Alexa.

Sau một thời gian dài phát triển ổn định với doanh thu 4,28 tỷ USD năm 2005, thị trường DVD “hạng nặng” chỉ còn đạt 3,62 tỷ USD năm ngoái. Theo Paul Fishbein, Chủ tịch AVN Media Network (Mỹ), nếu không có gì thay đổi, ngành công nghệ giải trí với tổng trị giá 13 tỷ USD này sẽ còn nhận kết cục thảm hại hơn nữa trong năm nay.

Đây là một ví dụ tiêu biểu trong chuỗi câu chuyện về sự ảnh hưởng của Internet. Mạng kết nối vẫn được ca tụng khi thay đổi thế giới theo chiều hướng tốt đẹp hơn, nhưng nó cũng đang thách thức sự tồn tại của nhiều lĩnh vực như âm nhạc, báo giấy và một số loại hình ấn phẩm.

T.N.

Theo PCWorld, CNet