SMS BrandName là gì?

Tin nhắn thương hiệu (SMS BrandName) là một giải pháp Marketing thông qua tin nhắn. Qua đó thương hiệu của bạn sẽ nằm ở phần người gửi (Sender) của tin nhắn, thay cho các đầu số khô khan 6xxx, 8xxx, 01xxx… thiếu thiện cảm. Đặc biệt với chi phí thấp, thời gian gửi thông điệp đến trực tiếp tới đối tượng khách hàng mục tiêu và chắc chắn được đọc. SMS BrandName luôn là sự lựa chọn tốt cho các chiến dịch Digital Marketing.

Mobile Marketing được đánh giá là “miền đất hứa” cho các hoạt động Marketing trong tương lai khi mà tại Việt Nam đang có hơn 116 triệu thuê bao di động. Việc này đồng nghĩa với sẽ có hơn 116 triệu thiết bị di động được sử dụng thường xuyên. Đánh giá được tiềm năng to lớn đó, đã có những doanh nghiệp đi tiên phong trong việc ứng dụng Mobile Marketing vào việc tiếp cận các khách hàng tiềm năng của mình.

Dạo quanh một vòng tại thị trường Việt Nam, đặc biệt trong ngành ngân hàng, việc áp dụng các hình thức của Mobile Marketing đã trở nên phổ biến và là một trong những đơn vị đo lường sự chuyên nghiệp của một ngân hàng. Sự phổ biến đó được thể hiện qua việc sở hữu đầu số dùng để nhắn tin SMS (sỡ hữu trực tiếp hoặc thuê lại) của các ngân hàng lớn tại Hà Nội.

Thật dễ dàng để nhận ra việc các ngân hàng thường sử dụng đầu số để gửi tin nhắn SMS chăm sóc khách hàng, để thông báo các dịch vụ mới, thông tin tài khoản v.v… Tuy nhiên, như vậy là đã đủ và thể hiện sự chuyên nghiệp ở mức cao nhất hay chưa? Chắc chắn là chưa! Vì hiện nay trên thị trường đã xuất hiện một hình thức marketing trên mobile rất chuyên nghiệp đó là Brand Name SMS với nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với việc gửi SMS thông thường.

Thử tưởng tượng cảm giác của khách hàng khi nhận được một tin nhắn với MB Bank ở phần sender sẽ như thế nào?

Với tình trạng Spam SMS và tin nhắn SMS lừa đảo xuất hiện ngày một nhiều như hiện nay thì việc sử dụng Brand Name SMS để khẳng định thương hiệu và tạo sự tin tưởng tuyệt đối với khách hàng là một việc hết sức cần thiết.

Trong tương lai thì Brand Name SMS sẽ ngày càng trở thành một trong những công cụ marketing hiệu quả và tiết kiệm nhất. Liệu rằng ai, doanh nghiệp nào sẽ khai thác triệt để tiềm năng to lớn mà công cụ này mang lại.

Advertisements

Bảng giá dịch vụ SMS Brand Name

Bảng báo giá SMS Brand Name

Bảng giá dịch vụ SMS Brand Name

Gói dịch vụ

Số lượng SMS

Đơn giá (VNĐ)

Thành tiền(VNĐ)

Gói 1

1.000

750

750.000

Gói 2

5.000

700

3.500.000

Gói 3

10.000

650

6.500.000

Gói 4

20.000

600

12.000.000

Gói 5

50.000

550

27.500.000

Gói 6

100.000

500

50.000.000

Chương trình khuyến mại:

  • Miễn phí khởi tạo Brand Name (1.000.000).
  • Cung cấp danh bạ điện thoại nhắn tin theo yêu cầu.

Đặc biệt khuyến mại chào mừng Quốc khánh từ 1/9/2011 đến 30/9/2011:

  • Mua gói 10.000 SMS tặng miễn phí quảng cáo 3 từ khóa lên Top 3 Google trong 1 tháng (trị giá 2.500.000 VNĐ).
  • Mua gói từ 20.000 SMS tặng quảng cáo 3 từ khóa lên Top 3 Google trong 1 tháng ( trị giá 2.500.000 VNĐ) + miễn phí sử dụng dịch vụ email marketing pro 20.000 email (trị giá 2.400.000 VNĐ)

Chú thích:

  • Dịch vụ SMS thương hiệu cung cấp một công cụ giúp cho doanh nghiệp có thể gửi tin nhắn SMS đến các khách hàng, đối tác của mình với tên hiển thị là tên doanh nghiệp hay thương hiệu của doanh nghiệp.

Ưu điểm của SMS brandname

  • Tăng mức độ tin cậy của tin nhắn SMS đối với người nhận.
  • Tăng mức độ nhận biết và thương hiệu.
  • Đa dạng hóa hoạt động tiếp thị và chăm sóc khách hàng.
  • Chi phí thấp mang lại hiệu quả cao.
  • Chủ động về thời gian và ngân sách.
Để được tư vấn chi tiết hơn, Quý khách vui lòng Liên hệ đến:
Hotline: 0936.111.917 (Mr. Mạnh)
lien he quang cao google CÔNG TY CỔ PHẦN NGUỒN MỞ VIỆT NAM
Địa chỉ: Số 5/172 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội
Tel: (04)3.995.553 Fax: (04)Website: www.vosvn.com.vn | Facebook: http://facebook.com/vosvn

Discount Tire đã tăng doanh số bán hàng trực tuyến thêm 14% trong tuần đầu tiên sử dụng Google Analytics.

Kinh doanh

Discount Tire mang đến cho mọi người nhiều sự lựa chọn rộng rãi và mức giá thấp cho các sản phẩm lốp và bánh xe tại các địa điểm bán lẻ hoặc mua trên Internet. Với 40 năm trong nghề, Discount Tire là nhà buôn bán lốp xe độc lập lớn nhất nước, với 600 cửa hàng chỉ bán lốp và bánh xe.

“Google Analytics dễ triển khai hơn các sản phẩm phân tích trang web khác mà chúng tôi đã thử. Nó có chi phí gần như bằng không, hầu như không mất thời gian để triển khai và bảo dưỡng-và các mục tiêu, kênh có thể thay đổi ngay lập tức”.

Travis Unwin
Giám đốc Điều hành

Phương pháp Tiếp cận

Ngoài các cửa hàng bán lẻ, Internet còn trở thành một trong các kênh bán hàng thành công nhất của Discount Tire. Người mua hàng trực tuyến hầu như có thể thử bánh xe, xem bánh xe sẽ trông như thế nào trên các loại xe cụ thể bằng Hệ thống Tương tác Bánh xe. Họ cũng có thể tiết kiệm thời gian và tiền bạc bằng cách đặt hàng lốp hoặc bánh xe mà không phải trả phí giao hàng hoặc bằng cách mua lốp và hẹn lắp đặt tại cửa hàng địa phương-tất cả đều trực tuyến. Kết hợp Internet và cửa hàng bán lẻ mang lại 2 tỷ Đô la trong doanh số bán hàng ở 18 tiểu bang.

Việc hướng người mua đủ điều kiện vào trang web bán hàng trực tiếp và việc có thêm nhiều khách hàng đến các cửa hàng địa phương là mục tiêu sống còn đối với Discount Tire. Các chiến dịch quảng cáo dựa trên tìm kiếm của Google AdWordsTM là mấu chốt trong việc đạt được những mục tiêu này. AdWords có hiệu quả đặc biệt bởi khả năng của mình trong việc nhắm mục tiêu chính xác đến khách hàng địa phương với thông điệp theo vùng và theo mùa, nhưng không có chiến dịch nào là vô hạn.

“Các báo cáo kênh trong Google Analytics đóng vai trò quyết định trong sự thành công của chúng tôi. Chúng tôi làm việc liên tục để cải thiện trải nghiệm người dùng. Google Analytics cho chúng tôi sự hiểu biết cần thiết để nhanh chóng thấy được bước nào trong quá trình bán hàng trực tuyến bị phá vỡ để chúng tôi có thể sửa chữa ngay lập tức”.

Là công ty định hướng kết quả, Discount Tire tập trung vào các số liệu. Công ty có nhân viên phân tích số liệu toàn thời gian và sử dụng công cụ phân tích trang web để đánh giá hiệu quả của tất cả nỗ lực tiếp thị dựa trên Internet của mình, bao gồm cả AdWords. Travis Unwin, Giám đốc Điều hành Blue Ribbon Consulting, đại lý tiếp thị trực tuyến của Discount Tire, bày tỏ: “Chúng tôi đã sử dụng mọi biện pháp từ phân tích tệp tin nhật ký đến theo dõi cookie và gắn thẻ pixel để đánh giá tính hiệu quả của trang web và quảng cáo trên Internet của chúng tôi. Thật không may, tất cả đều có nhiều thiếu sót.”

Kết quả – Bắt đầu nhanh, bảo dưỡng rẻ

Quảng cáo dựa trên tìm kiếm, cụ thể là Adwords, là hòn đá tảng trong phương pháp của chúng tôi và lĩnh vực mà chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển”.

Travis Unwin
Giám đốc Điều hành

Theo Unwin và Bolland, Google Analytics dễ triển khai, hầu như không yêu cầu tuỳ chỉnh và cung cấp ngay số liệu chi tiêt mà công ty đang cần. Biện pháp chính để hướng lưu lượng truy cập đến trang web là định hướng theo từ khoá, quảng cáo dựa trên tìm kiếm. Google Analytics đã cung cấp tính năng tích hợp dễ dàng với các chiến dịch AdWords để đo kết quả chính xác, cũng như khả năng gắn thẻ từ khoá cho URL đích với thao tác nhấp chuột vào nút. Nhóm Discount Tire dễ dàng thiết lập kênh và mục tiêu chuyển đổi trong Google Analytics, thay vì phải thêm các thẻ khác nhau vào các trang trên trang web-ưu thế then chốt trong việc duy trì trang web định hướng động của công ty mà không cần chú tâm đến tài nguyên CNTT.

“Google Analytics dễ dàng hơn nhiều trong việc triển khai so với các sản phẩm phân tích web khác mà chúng tôi đã thử”, Unwin nói. “Nó có chi phí gần như bằng không, hầu như không mất thời gian để triển khai và bảo dưỡng-và mục tiêu, kênh có thể thay đổi ngay lập tức”.

Thiết kế trang web được tổ chức hợp lý

Từ khi triển khai Google Analytics, Discount Tire có thể theo dõi chiến dịch tiếp thị đi sâu vào chi tiết, xuống tận cấp độ lợi tức đầu tư từ các sản phẩm cụ thể. Nhóm tiếp thị cũng có thể đo lường các hiện tượng mua sắm của từng khách hàng bằng cách sử dụng các tính năng chuyển đổi kênh và lớp phủ trang. Google Analytics cũng cung cấp thông tin hữu ích về việc điều hướng trang web. Bolland và Unwin theo dõi 10 điểm truy cập cao nhất của bất kỳ trang web nào và đi theo đến nơi khách hàng đã đi từ các điểm này để giúp tổ chức tốt hơn sự tương tác của khách hàng trên trang web.

Trong tháng 7 năm 2005, Discount Tire đã bắt đầu bán lốp và bánh xe trực tuyến. Google Analytics là mấu chốt trong việc cho phép đội ngũ tiếp thị theo dõi và đánh giá kết quả của sáng kiến mới. Ví dụ: Google Analytics đã giúp nhóm đo tính hiệu quả của thiết kế trang web trong việc hướng các tỷ lệ chuyển đổi thành doanh số. Google Analytics xác định ngôn ngữ thành công nhất cho nút kiểm tra. “Hãy mua và đặt trước” dẫn đến sự sụt giảm doanh số đáng kể, nhưng thay đổi thành “hãy thanh toán và đặt trước” dẫn đến một sự gia tăng về doanh số trực tuyến với mức tăng 14% chỉ trong một tuần.

Nhóm tiếp thị cũng khám phá rằng mọi người sẽ bỏ qua giỏ hàng nếu các mục hàng không còn có trong kho tại cửa hàng bán lẻ địa phương của họ. Bằng cách thêm ngôn ngữ làm khách hàng yên tâm rằng Discount Tire sẽ đặt lại và nhập kho mục hàng đó, tỷ lệ bỏ qua cho các mục không có sẵn đã tụt xuống và doanh số tăng thêm 36 phần trăm.

Bolland cho biết: “Các báo cáo kênh trong Google Analytics đóng vai trò quyết định trong thành công của chúng tôi. Chúng tôi làm việc liên tục để cải thiện trải nghiệm người dùng. Google Analytics cung cấp kiến thức mà chúng tôi cần để nhanh chóng nhận ra bước nào trong quá trình bán hàng trực tuyến bị lỗi để có thể sửa chữa ngay lập tức.”

Tăng hiệu quả tiếp thị với chi phí thấp hơn

Nhóm tiếp thị cũng sử dụng các bảng tóm tắt hiệu suất then chốt trong Google Analytics để thông báo về tiến trình và các kết quả bán hàng đạt được từ những nỗ lực tiếp thị trực tuyến cho những người quản lý của công ty. Nhờ tính hiệu quả và tác động có thể đo lường được, Discount Tire đang áp dụng nhiều tài nguyên hơn cho tiếp thị trực tuyến.

“Tiếp thị trực tuyến đang trở thành một phần quan trọng hơn trong chiến lược tiếp thị của Discount Tire”, Unwin nói. “Quảng cáo dựa trên tìm kiếm, cụ thể là AdWords, là nền tảng trong phương pháp tiếp cận của chúng tôi và lĩnh vực mà chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển”.

Theo Matt Greene, Chủ tịch Blue Ribbon, “từ một viễn cảnh chiến lược, Blue Ribbon đã tập trung làm việc với các khách hàng của mình để hiểu rõ hơn giá trị to lớn vốn có trong tiếp thị trực tuyến (ngoài các lợi ích rõ ràng của khả năng theo dõi và các kết quả tích cực được tạo ra từ Tìm kiếm) để họ tạo ra ngày càng nhiều thu nhập quảng cáo ngoại tuyến và tái phân bổ vào tiếp thị trực tuyến. Rõ ràng, bộ công cụ của Google Analytics cho phép quá trình giáo dục này và mang đến sự kiểm chứng cho khái niệm”

Dữ liệu hữu ích cho sự cải tiến liên tục

Vào năm 2006, công ty dự kiến tăng tập trung vào việc nhắm mục tiêu theo địa phương dựa trên các thông tin lấy được từ Google Analytics. Quảng cáo địa phương rẻ hơn và Discount Tire có thể nhanh chóng phản hồi bằng cách tinh chỉnh các thông điệp cho khách hàng, nhắm mục tiêu vùng với quảng cáo cụ thể theo mùa hoặc thay đổi từ khoá tìm kiếm hoặc chiến lược đặt giá thầu trên AdWords để tăng lưu lượng truy cập và kết quả. Một cách cụ thể, việc nhắm mục tiêu theo địa phương đã có một tác động to lớn đến doanh số của Discount Tire trên trang web lẫn tại các cửa hàng. Theo Unwin, tiếp thị tìm kiếm địa phương có hiệu quả gấp ba lần trong việc tạo các giao dịch trực tuyến so với chiến dịch cấp quốc gia của họ, chiến dịch này làm người ta nghĩ đến một công ty có phần lớn hoạt động kinh doanh tại một địa điểm cửa hàng– không thông qua giao hàng trực tiếp đến khách hàng.

“Mỗi mẩu thông tin mới chúng tôi nhận được từ Google Analytics cho chúng tôi 10 ý tưởng mới có thể giúp khách hàng tìm thấy những gì họ cần trên Internet.”

Travis Unwin
Giám đốc Điều hành

Các kế hoạch bổ sung bao gồm việc thay đổi lập luận cho quyết định mua trên trang web để tạo điều kiện cho việc bán hàng mang tính tư vấn nhiều hơn và việc sử dụng tiếp thị trực tuyến để giúp củng cố thương hiệu Discount Tire. Dựa trên thông tin từ Google Analytics, Discount Tire có thể ra các quyết định kinh doanh rộng hơn nhờ phát hiện ra các xu hướng và liên tục định hướng cũng như củng cố các chiến lược tiếp thị của mình.

Unwin cho biết: “Mỗi mẩu thông tin mới nhận được từ Google Analytics sẽ cung cấp cho chúng tôi 10 ý tưởng mới, có thể giúp khách hàng tìm thấy những gì họ cần trên internet. Google Analytics giúp chúng tôi ưu tiên những việc nên làm trước và sau đó theo dõi số liệu thành công cho từng thay đổi để đảm bảo rằng các giả định của chúng tôi là đúng. Google Analytics là chìa khoá để liên tục cải thiện trang web của chúng tôi và kinh nghiệm của khách hàng.”

Giới thiệu về Blue Ribbon Consulting

Được thành lập vào tháng 1 năm 2002, Blue Ribbon làm việc với những nhà bán lẻ, những nhà sản xuất và công ty dịch vụ đầu ngành chú trọng vào việc phát triển và dựa vào các chiến lược giành khách hàng mới nhân danh khách hàng của công ty. Blue Ribbon cung cấp một bộ đầy đủ các phương tiện thông tin đại chúng trực tuyến để lập kế hoạch và mua các dịch vụ và để có kiến thức chuyên môn sâu sắc về Tiếp thị bằng Tìm kiếm, ngoài các kênh phương tiện then chốt khác như Hiển thị, Trang Vàng Internet, So sánh Mua sắm, Phương tiện Thông tin đại chúng Địa phương và các kênh đang nổi lên như Phát thanh trực tuyến và nguồn cấp dữ liệu RSS.

E learning trong mắt người học

Nếu thế kỷ 20 chứng kiến những đột phá trong phát triển công nghệ thông tin như một thành tựu khoa học ứng dụng, thì thế kỷ 21 lại chứng kiến sự phát triển tột bậc của công nghệ ấy qua sự hóa thân vào vai trò một công cụ đắc lực cho phát triển con người. Đào tạo trực tuyến ra đời như một cuộc cách mạng về dạy và học của thế kỷ 21. Nhờ có những giải pháp tiên tiến của công nghệ để người dạy có thể thiết kế được những
phương tiện truyền tải kiến thức và kỹ năng một cách hữu hiệu nhất tới người học, ngày nay người học có thể ngồi ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào để… “đến trường” mà vẫn đạt được hiệu quả học tập tốt nhất.
Tuy nhiên, ở Việt Nam dịch vụ đào tạo trực tuyến mới chỉ nở rộ chưa lâu. Xuất hiện đầu tiên ở khoa Công nghệ Thông tin Đại học Mở Hà Nội vào năm 2001, lúc đó nội dung đào tạo trực tuyến mới chỉ giới hạn ở lĩnh vực công nghệ thông tin và dành cho những người “sành công nghệ”. Một số trường đại học khác cũng triển khai giải pháp đào tạo trực tuyến, nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ hạn chế. Đến tháng 11/2004, ngành giáo dục ra mắt cổng e-learning chính thức tại địa chỉ http://el.edu.net.vn do Cục tin học Bộ Giáo dục Đào tạo tự thiết kế trên công nghệ Web Conferencing, sử dụng mã nguồn mở. Đến nay đã 10 năm kể từ khi người học Việt Nam lần đầu ứng dụng e-learning tại đất nước mình, việc học trực tuyến đã dần trở thành thói quen của một thế hệ người Việt Nam, bất kể đó là học sinh, sinh viên hay là người đang đi làm. Với xu hướng chuyên môn hóa và sử dụng nhiều dịch vụ thuê ngoài chuyên nghiệp cùng với quan điểm tối ưu hóa chi phí đào tạo của doanh nghiệp, các chương trình đào tạo trực tuyến được thiết kế cá thể hóa cho doanh
nghiệp sẽ có chỗ đứng tốt. Riêng trong năm 2009, số lượng các doanh nghiệp có quy mô nhân sự lớn tự triển khai hình thức đào tạo trực tuyến nội bộ đã tăng lên đáng kể, đi đầu là các ngân hàng. Bên cạnh việc mua sản phẩm đào tạo trực tuyến “sẵn có trên giá hàng”, các doanh nghiệp Việt nam sẽ đi theo xu hướng thực hiện đào tạo kết hợp (blended training) cho các nội dung đào tạo đặc thù. Thực tế ở các doanh nghiệp đa quốc gia hoạt động dựa trên nền tảng tri thức và có thương hiệu lớn như BP, Deloitte, HSBC, v.v. cho
thấy họ sử dụng hết sức hiệu quả các sản phẩm đào tạo trực tuyến cũng như sản phẩm kết hợp trực tuyến và trực tiếp. Theo ý kiến của một vị lãnh đạo doanh nghiệp ngành ngân hàng, học trực tiếp được kết hợp với thực hành trực tuyến sẽ giúp cho việc tăng cường năng lực nhân viên một cách bền vững với chi phí thấp hơn, đồng thời phát triển được văn hóa doanh nghiệp có định hướng. Những ý kiến trên đây cho thấy, những sản phẩm đáp ứng được hai xu hướng nêu trên của doanh nghiệp sẽ giúp Chương trình đào tạo quản lý trực tuyến OMT đem lại lợi ích khác biệt cho người học. Đó chính là con
đường giúp thương hiệu OMT đồng hành bền lâu với thành công của doanh nghiệp trong phát triển năng lực con người.

theo http://omt.vn

Tổng quan về OpenSource – Mã Nguồn Mở

nguồn mở thực sự là 1 cuộc cách mạng tại rất nhiều nơi trên toàn thế giới, từ những cá nhân đơn lẻ cho tới những công ty, tổ chức lớn cũng như chính phủ. Tại Việt Nam, các sản phẩm mã nguồn mở chịu nhiều sự hoài nghi từ phía người dùng và bị che mờ bởi các sản phẩm thương mại và nạn vi phạm bản quyền nghiêm trọng.

Để có thể phát triển mã nguồn mở ở Việt Nam, trước hết chúng ta cần hiểu rõ : nó là gì ? Nguyên tắc hoạt động của nó ? Tinh thần của mã nguồn mở ? … Nếu bạn có thời gian xem hết 52 slide sau đây, tôi chắc chắn những thắc mắc của các bạn nếu có trước khi đọc bài này sẽ hoàn toàn bị dẹp bỏ và bạn sẽ có 1 cái nhìn tổng quát và đúng đắn hơn về OpenSource – Mã nguồn mở

Tôi xin tóm gọi 52 slide trên với những ý chính sau để giúp những bạn không có nhiều thời gian có thể nắm được vấn đề

1. Các giải pháp mã nguồn mở có thể sánh ngang với các giải pháp thương mại về mức độ hiệu quả, tính bảo mật cũng như các chức năng.

2. Một dự án mã nguồn mở thường dựa trên lõi ( nền tảng ) được phát triển bởi các thành viên chính thức trong nhóm phát triển + các thành phần mở rộng được viết bởi các nhà phát triển thứ 3.

3. Sự tương tác giữa các thành phần mở rộng và lõi cần được xem xét cẩn thận, việc sử dụng quá nhiều các thành phần mở rộng sẽ dẫn tới chi phí cho việc bảo trì cao.

4. Các giải pháp mãnguồn mở là các giải pháp phần mềm : nó cần được bảo trì và hỗ trợ : các diễn đàn là những tài nguyên tuyệt vời, tìm trước khi hỏi và không nên nghĩ rằng mọi người phải có trách nhiệm hỗ trợ các thắc mắc của bạn, tất cả đều xuất phát từ tinh thần tự nguyện, hãy biết ơn nếu bạn nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào.

5. Nếu bạn đã tham gia vào cộng đồng mã nguồn mở, hãy tham gia hỗ trợ những người mới, điều đó không chỉ giúp ích cho người khác, cho cộng đồng mã nguồn mở mà còn cho chính bạn.

6. Tổ chức của bạn có thể thu được lợi nhuận tối đa từ các dự án mã nguồn mở nếu hội tụ đủ các kỹ năng cần thiết. Nếu không, hãy liên hệ với những dịch vụ chuyên nghiệp.

7. Các phần mềm mã nguồn mở có ý nghĩa hơn là 1 mô hình kinh doanh, nó được xây dựng trên những nền tảng vững chắc: hãy suy nghĩ về nó và có những đóng góp ngược lại cho cộng đồng.

8. Có rất nhiều giải pháp mã nguồn mở trên thị trường, hãy chọn cho bạn 1 giải pháp thích hợp nhất, không có 1 giải pháp chung cho mọi vấn đề.

Nguồn : http://www.slideshare.net/55thinking/understand-open-source-ecosystems/

Làm thế nào để bạn trở thành một Freelancer thành công

Làm thế nào để bạn trở thành một Freelancer thành công? Sau đây là một số phẩm chất mà một Freelancer cần có:
• Kinh nghiệm(Experience): Tất nhiên rồi, bạn cần phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực mà ban muốn tham gia. Đây là công việc bạn thực sự bắt tay vào làm do vậy khách hàng sẽ dễ dàng nhận ra bạn là người có kỹ năng hay không. Bạn tỏ ra là người có kinh nghiệm, bạn sẽ dễ thuận lợi khi tìm đối tác.
• Tin cậy(Reliability): Trong bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào, sự hài lòng của khách hàng sẽ mang lại lợi nhuận to lớn cho bạn. Điều này bao gồm sự đúng hẹn của bạn, và những giao tiếp của bạn với khách hàng. Hãy giữ liên lạc và cho họ thấy bạn đang làm việc cho họ.
• Duy trì sự tập trung(Staying focused): Làm việc tự do bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào bạn muốn đó là một thách thức rất lớn. Bạn phải biết tổ chức và kỷ luật nghiêm ngặt đối với bản thân. Điều đó có nghĩa là bạn phải biết tự quản lý chính bạn. làm được điều này bước đầu bạn đã thành công trên con đường trở thành một freelancer.
• Khả năng tìm hiểu nhanh (Ability learning fast): Bạn được thuê làm một vài việc gì đó cho một ông chủ mà không có các quyền lợi như là một nhân viên, tất cả đó là outsourcing. Bạn cần phải nhanh chóng hiểu được yêu cầu của khách hàng và nhanh chóng đáp ừng mong đợi của khách hàng. Vì vậy kỹ năng này không thể thiểu đối với một Freelancer.
• Năng động (Flexibility): Bạn luôn phải thay đổi theo ý của khách hàng. Khách hàng trả tiền cho bạn để làm việc này. Nếu không bạn hãy yêu cầu họ.
• Tổ chức (Orgnization): Freelancer luôn phải biết tổ chức công việc hợp lý, vì một lúc họ có thể phải quan tâm đến nhiều khách hàng. Vì vậy để làm tốt họ phải tổ chức được thật tốt công việc.
• Tự nỗ lực (Self movitation): Luôn nỗ lực không ngừng, tự nâng cao kinh nghiệm cũng như kỹ năng về lĩnh vực mà Freelancer tham gia.
• Kiên trì và bền bỉ(Persistence): Bạn luôn phải kiên trì bền bỉ, luôn luôn nỗ lực làm khách hàng hài lòng.
• Chuyên nghiệp: (professionalism)
• Có thể nói “Không” (Being able say “No”) và cũng chấp nhận không.
• Tin tưởng(Confident): Những thành công của freelancer là sự tự tin của bản thân, đáp ững được các yêu cầu khó khăn nhất của khách hàng.

Mike Vu.

Rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) ứng dụng CNTT đều gặp ba thách thức: nhận thức – nhân lực và khả năng cung ứng các sản phẩm và dịch vụ CNTT tốt cho SMEs còn hạn chế.

Câu chuyện thứ nhất: Công ty Cổ phần Kết nối Truyền thông Việt Nam thiết kế website cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu nhưng lại host ở nước ngoài nên không có hóa đơn mua tên miền. Công ty chỉ có bản xác nhận của Ngân hàng phía Việt Nam về việc đã thanh toán chi phí hosting bằng thẻ. Rắc rối xảy ra khi Chi cục Thuế Hai Bà Trưng nhất quyết không chấp nhận bản xác nhận, bắt buộc phải có hợp đồng hosting mới được thanh toán thuế đầu vào. Công ty đành bó tay chịu trận bởi không thể kiếm được hợp đồng khi ở nước ngoài, thanh toán trực tuyến đã trở thành chuyện thường tình. Câu chuyện thứ hai: Công ty Thương mại Viễn Đông đã nhiều lần lên mạng mua hàng của các công ty quốc tế, nhưng cũng đã vấp phải những rắc rối đáng bực mình. Các cơ quan thuế và hải quan Việt Nam yêu cầu phải có hợp đồng đã được ký kết chính thức giữa Công ty và đối tác nước ngoài thì mới thanh toán đầu vào, không chấp nhận việc thanh toán bằng thẻ. Trong khi đó, các đối tác quốc tế thông báo không dư sức để ký hợp đồng với từng khách hàng, nhất là khi thực hiện rất nhiều giao dịch hàng ngày. Câu chuyện thứ ba: Cũng vẫn Công ty Thương mại Viễn Đông, một lần háo hức lên siêu thị ảo của VDC để mua hàng, nhưng 8 tiếng sau khi click vào món hàng muốn mua, phía bán hàng vẫn chẳng có hồi âm về việc hàng còn hay hết. Đến sáng hôm sau, khách hàng mới được thông báo về sản phẩm. Chậm trễ như vậy thì “Thượng đế” nào đủ kiên nhẫn để chờ. Câu chuyện thứ tư: Nhiều SMEs đã thử kinh doanh bằng phương thức điện tử, nhưng kém hiệu quả. Đối tượng khách hàng chủ yếu nhỏ lẻ vẫn quen thanh toán theo phương thức truyền thống, bởi bản thân khách hàng cũng chưa ứng dụng CNTT và cách thức thanh toán truyền thống xem ra vẫn có hiệu quả kinh tế cao hơn. Tính toán một cách đơn giản, muốn in một hóa đơn bán hàng, cần phải mất ít nhất một tờ giấy, chưa kể chi phí cho điện, hao mòn máy, trong khi đó, chỉ cần hai nghìn đồng đã có thể mua được một quyển phiếu thu, dùng nửa tháng mới hết. Việc thanh toán qua mạng chưa đảm bảo sự an toàn cho doanh nghiệp (cần nhấn mạnh đây là SMEs chứ không phải doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn, họ đang rất cần phải bảo toàn vốn để có thể kiếm thêm lãi). Chỉ vài ví dụ nhỏ trong lĩnh vực kinh doanh điện tử thôi cũng đã thấy còn rất nhiều khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Rào cản về nhận thức, nhân lực và ứng dụng Tìm hiểu thêm về những thách thức đối với SMEs trong việc ứng dụng CNTT thì thấy trước hết ở vấn đề nhận thức. Rất nhiều doanh nghiệp khẳng định đã nhận thức rõ về việc ứng dụng CNTT, song thực tế chỉ có số ít hiểu được đầy đủ điều này. “Đầy đủ” nghĩa là phải trả lời được cả 3 câu hỏi: Tại sao phải ứng dụng; ứng dụng cái gì cho phù hợp với đặc thù của mình; ứng dụng như thế nào. Đa phần doanh nghiệp mới trả lời được câu hỏi thứ nhất, dẫn đến tình trạng đầu tư chưa đúng hướng hoặc còn hạn chế – phần lớn chi phí dành cho trang thiết bị, cơ sở hạ tầng chứ chưa chú trọng tới giải pháp, đào tạo. Thách thức thứ hai – nguồn nhân lực. Chẳng phải giám đốc SMEs nào cũng có trình độ về CNTT và quan tâm đúng mức tới CNTT. Ông Nguyễn Văn Thảo, Tổng Thư ký Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam nói vui “nếu giám đốc mê cầu lông thì phong trào chơi cầu lông ở doanh nghiệp lên rất mạnh. Khi nào giám đốc điều hành công việc bằng CNTT thì lúc đó tự khắc các thành viên trong doanh nghiệp sẽ làm việc bằng công nghệ thông tin”. Thực tế đã được chứng minh, ở Trung tâm Công nghệ Thông tin CDiT, Giám đốc điều hành toàn bộ công việc qua mạng nên từ lái xe đến trưởng phòng đều phải vào mạng để xem mình phải làm việc gì. Tuy nhiên cũng phải xét tới điều kiện đó là những doanh nghiệp lớn, còn với các SMEs, nhiều đơn vị chưa có cả máy fax, giám đốc phải lo từng ngày để trả lương đúng hạn cho nhân viên thì cũng khó nói tới việc ứng dụng CNTT. Thứ ba – khả năng cung ứng các sản phẩm và dịch vụ CNTT tốt cho SMEs còn hạn chế. Rất dễ tìm phần mềm kế toán nhưng khó tìm được những sản phẩm đặc thù như thiết kế cho ngành may, ngành cầu đường. Chưa kể chất lượng sản phẩm không tốt, giá lại cao so với khả năng của SMEs. Theo một nghiên cứu về thị trường dịch vụ kinh doanh ở Việt Nam, hơn 70% doanh nghiệp ở Việt Nam (trong đó có cả SMEs) không thỏa mãn với các dịch vụ được cung cấp. Về thực trạng ứng dụng CNTT trong các SMEs, Hiệp hội Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội cho biết, trong 132.000 SMEs ở Việt Nam, chỉ có hơn 5.000 doanh nghiệp sử dụng Internet, nghĩa là có tới gần 90% doanh nghiệp đứng ngoài “cuộc chơi” thương mại điện tử. Chưa tới 10% doanh nghiệp có trang web nhưng thông tin chỉ đơn thuần là giới thiệu doanh nghiệp, sản phẩm, ít có giao dịch và thanh toán trực tuyến. Chỉ có 10% doanh nghiệp quan tâm đến thương mại điện tử và khoảng 7–8% doanh nghiệp bắt đầu triển khai mạng thương mại. Kết quả thăm dò ý kiến năm 2002 của Quỹ Phát triển Chương trình Mêkông đối với 100 SMEs ở Việt Nam cho thấy 48% doanh nghiệp sử dụng Internet chỉ để gửi và nhận email, khoảng 33% doanh nghiệp có kết nối Internet nhưng không dùng để hỗ trợ kinh doanh. Bà Kelly Hutchinson, tư vấn viên của Ủy ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (UN ESCAP) nhận định: “Các dịch vụ phát triển kinh doanh điện tử trong các SME cần được hỗ trợ nhiều hơn nữa. Các SMEs sử dụng CNTT như một công cụ để phát triển kinh doanh, đặc biệt là liên hệ với khách hàng nhưng họ thiếu cơ sở vật chất, an ninh, trình độ và các nguồn lực khác để ứng dụng CNTT. Những điều này đã làm cho các SME không thể ứng dụng CNTT để trở thành doanh nghiệp có tính cạnh tranh hơn được”. * Minh Huệ