AN TOÀN trong MÙA ĐÔNG

Bác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC

 
 

 
 

    Vạn vật sống trong một hỗn tạp trộn lẫn nhiều loại khí bao quanh trái đất, gọi là không khí hay khí quyển (atmosphere). Không khí thay đổi, di động không ngừng và tạo ra thời tiết.

    Thời tiết là tình trạng của không khí ở một nơi vào một thời điểm nào đó. Thời tiết tùy thuộc vào nhiệt độ nóng hoặc lạnh của không khí, mưa hay tạnh, có gió hay không. Gió là sự di động của không khí. Nhiệt độ thay đổi tùy theo mùa, theo ngày và tùy thuộc vào nhiệt độ trên mặt đất: càng lên cao, nhiệt độ không khí càng lạnh vì xa đất. Một năm là thời gian trái đất lượn một vòng quanh mặt trời. Mùa là tùy theo trái đất khi đó ở gần hay xa mặt trời, và số ánh sáng mặt trời dọi lên trái đất. Mùa Hạ, phần trái đất trực diện với mặt trời, khí hậu nóng, mùa Đông, phần trái đất ở phía bên kia mặt trời nên khí hậu lạnh.

    Có bốn mùa khác nhau trong một năm: Xuân, Hạ, Thu và Đông. Đông là thời gian lạnh nhất đến từ tháng Chạp tới tháng Hai ở Tây Bán Cầu. Nhiệt độ lạnh trong mùa Đông có thể gây ra một số vấn đề khó khăn cho sức khỏe con người. Nhưng không thể tránh lạnh bằng đi vào giấc ngủ mùa Đông như một vài thú vật, con người phải sống với cái lạnh cũng như tận hưởng cái thú của mùa lạnh. Trong tận hưởng, có những đề phòng để tránh chuyện không tốt cho sức khỏe.

    Bình thường, cơ thể có những cơ chế trời cho để thích nghi với sự thay đổi nhiệt độ chung quanh. Ngoài ra, con người với vốn kiến thức sẵn có, cũng tạo ra nhiều phương thức để tránh tổn thương do thời tiết gây ra.

    Khi nhiệt độ xuống dưới mức trung bình thì làm sao cho ấm và an toàn cho cơ thể là một thách đố, một khó khăn. Mà nếu lại có những bão tố mùa đông thì nhiều vấn đề khác đặt ra. Ta có thể tránh tai nạn ngoài đường bằng cách ở trong nhà, nhưng trong nhà cũng có những rủi ro. Tiếp cận lâu với khí lạnh ở trong nhà hoặc ngoài trời có thể đưa đến những vấn đề sức khỏe trầm trọng đôi khi chết người. Mọi người đều có thể bị nguy hiểm, đặc biệt trẻ em, người cao tuổi và người đang đau bệnh.

Để cho gia đình được an toàn trong mùa Đông, mọi người đều cần biết cách phòng ngừa những vấn đề khó khăn của sức khỏe do sức lạnh gây ra và cần phải làm gì khi có chuyện khẩn cấp xẩy ra khi bị lạnh quá độ.

Có hai vấn đề sức khỏe liên hệ với nhiệt độ lạnh giá là sự Giảm Nhiệt (Hypothermia) và sự Cóng Lạnh (Frosbite) mà mọi người cần biết để đề phòng, đặc biệt là cho người cao tuổi và trẻ em.

 
 

Sự Giảm Nhiệt

 
 

Giảm nhiệt xẩy ra khi nhiệt độ trong cơ thể giảm  xuống dưới 95F hoặc 35C. Nhiệt độ bình thường của cơ thể thay đổi giữa 97 F tới 100 F (36.2 C tới 37.6 C). Nhiệt độ thấp vào buổi sáng vì các bắp thịt thư giãn suốt đêm và chưa ăn uống để sinh nhiệt. Buổi chiều thì nhiệt độ nhích lên cao vì cơ thể  đã hoạt động và thực phẩm tiêu thụ đã tạo ra nhiệt. Nhiệt độ được bộ phận hypothalmus ở não điều hòa, giữ ở mức trung bình dù thời tiết chung quanh có thay đổi. Nhưng sự điều hòa lại có giới hạn: suy yếu khi cơ thể không khỏe và khi sự thay đổi nhiệt độ bên ngoài quá nhanh và quá mạnh.

Cơ thể bị giảm nhiệt vì nhiệt năng được tiêu dùng nhiều hơn là được cung cấp. Giảm nhiệt rõ ràng nhất là khi cơ thể tiếp cận không những với thời tiết lạnh mà còn với gió và độ ẩm của không khí. Gió làm nhiệt trong cơ thể bay đi mau hơn. Tiếp cận với lạnh kéo dài sẽ đưa tới cạn nguồn dự trữ nhiệt trong cơ thể rồi giảm nhiệt. Giảm nhiệt ảnh hưởng tới não bộ, nạn nhân kém nhận thức, hành động khó khăn với các hiểm nghèo do giảm nhiệt gây ra.

Nguy cơ gây giảm nhiệt:

Có nhiều yếu tố đưa tới giảm nhiệt: nhà không được sưởi đủ nóng, ăn không đủ chất dinh dưỡng để có nhiệt năng, uống nhiều rượu, có bệnh kinh niên như về tim, gan, tuyến giáp trạng (thyroid), có bệnh nhiễm trùng, do tác dụng của một số dược phẩm, ở ngoài lạnh quá lâu, mặc quần áo không đủ ấm, mới gặp tai nạn hay té xuống nước, người sống cô đơn, túng thiếu.

Người cao tuổi rất hay bị tai nạn giảm nhiệt. Khả năng phân biệt sự thay đổi nhiệt độ chung quanh của họ yếu đi, họ cần nhiệt độ kích thích cao hơn để đáp ứng như là lấy thêm chăn để đắp hoặc vặn lò sưởi nóng hơn. Nhiều ngưởi cao tuổi cũng thích nhiệt độ mát trong nhà. Với người còn di động làm việc thì nhiệt độ 70 F trong nhà không sao, nhưng người đau nằm một chỗ sẽ có hậu quả không tốt.

Sự suy dinh dưỡng đưa đến giảm kho dự trữ, giảm lớp mỡ bao che cơ thể, giảm sinh nhiệt năng. Sự không di động đưa đến giảm sinh nhiệt cơ thể đồng thời không kiếm chỗ ấm hơn hoặc lấy thêm quần áo. Nhiều dược phẩm trị đau nhức, bệnh tâm trí có thể làm xáo trộn khả năng điều hòa thân nhiệt và đưa đến nguy cơ giảm nhiệt.

Dấu hiệu:

Giảm nhiệt có thể xẩy ra trong vòng một giờ, trong vài giờ, tùy theo số lượng nhiệt năng mất đi.

Triệu chứng của giảm nhiệt gồm có: trong người thấy mệt mỏi, lờ đờ, tâm thần rối loạn, nói ngượng nghịu, người lạnh giá, cơn run rẩy rùng mình, ngón chân ngón tay lợt lạt, cử động khó khăn, cơ thịt cứng nhắc, người lạnh toát. Nhịp tim và hơi thở lúc đầu nhanh, sau đó chậm dần. Nạn nhân có thể rơi vào tình trạng hôn mê.

Điều trị:

Giảm nhiệt là một vấn đề sức khỏe trầm trọng, cần được cấp cứu tức thì. Nạn nhân cần phải nhập bệnh viện điều trị để tránh các biến chứng hiểm nghèo có thể xẩy ra.

Đừng tự chữa hoặc chữa cho người bị giảm nhiệt mà kêu cấp cứu ngay. Trong khi chờ đợi, để nạn nhân nằm nơi ấm áp, kín gió; sưởi ấm ngực, cổ, đầu và bẹn với chăn thường hoặc chăn điện. Đừng nâng cao chân người bị nạn vì làm vậy máu sẽ dồn nhiều về phía trên người, khiến chân bị băng lạnh nhiều hơn.

Phòng ngừa:

– Kiểm soát nhà coi lấp kín các khe hở làm mất nhiệt mà lại đưa hơi lạnh vào nhà.

      – Giữ nhiệt độ trong nhà không nóng quá, khoảng 72 F là đủ.

– Mặc quần áo đủ ấm, không bó sát quá để máu lưu thông và thoáng khí vì không khí là lớp cách nhiệt rất tốt.

– Khi ra ngoài lạnh, nên mặc quần áo nhiều lớp: trong cùng là loại vải hút hơi ẩm như lụa, polypropylene; lớp giữa là hàng len giữ nhiệt trong cơ thể; lớp ngoài vừa giữ nhiệt vừa chắn gió, ngăn nước.

– Một phần tư nhiệt trong cơ thể bay đi ở đầu, nên cần đội nón che đầu, tai.

      – Che chở bàn tay, bàn chân bằng tất và bao tay (bao hở ngón cái ấm hơn bao tay riêng ngón).

– Khi ra ngoài lạnh, che miệng để khỏi mất nhiệt qua hơi thở.

      – Nếu quần áo, cơ thể bị ướt thì cần lau khô, thay quần áo ngay vì đồ ướt làm mất rất nhiều nhiệt của cơ thể.

– Dự trữ thêm một cái mền trong phòng ngủ, phòng khách để khi cần đã có sẵn.

– Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng. Mùa Đông cần nhiều thực phẩm để có nhiều nhiệt năng. Uống nước ấm như trà, cà phê, nước súc-cù-là vừa làm ấm người vừa mang thêm chất lỏng cho cơ thể. Về mùa lạnh cũng như mùa nóng, cơ thể vẫn đổ mồ hôi nên vẫn cần nước đầy đủ.

– Tránh uống rượu vì rượu làm giảm nhiệt độ cơ thể.

– Hỏi bác sĩ hoặc nha sĩ xem thuốc nào ảnh hưởng tới thân nhiệt để phòng ngừa.

– Nếu sống một mình thì nên sắp xếp để có người thỉnh thoảng hỏi thăm xem mình ra sao.

      – Người cao tuổi đừng cho là mình không bị giảm nhiệt nếu ta không cảm thấy lạnh, vì ở nhóm người này cơ chế điều hòa thân nhiệt không còn tốt.

– Trẻ em dưới một tuổi không nên để ngủ trong một phòng lạnh vì em bé mất nhiệt dễ hơn người lớn đồng thời các em cũng khó thích nghi với độ quá lạnh.

 
 

Chứng Cóng Giá

 
 

Cóng giá (Frostbite) là sự tổn thương cơ thể gây ra do hiện tượng lạnh giá, đóng băng. Cóng giá đưa đến mất cảm giác tạm thời hay vĩnh viễn ở bộ phận bị thương tổn. Mũi, tai, má, cằm, ngón tay ngón chân là những nơi hay bị cóng giá nhất. Nguy cơ cóng giá tăng lên nếu máu huyết lưu thông bị cản trở hoặc không mặc quần áo đủ ấm khi trời rất lạnh.

Thương tổn do lạnh giá có thể nông ngoài da hoặc sâu ở tế bào dưới da. Khi nông thì da hơi đau, tái, cứng trong khi đó tế bào nằm dưới lại mềm. Khi tế bào dưới sâu bị cóng giá thì da không còn cảm giác, tê dại, cứng ngắc. Nhiều nạn nhân không biết bị cứng giá cho tới khi có người nhìn thấy và cho hay.

      Cóng giá là một trường hợp cấp cứu, cần được chữa trị trong bệnh viện ngay. Trong khi chờ đợi, ta đặt nạn nhân vào phòng ấm áp, và ngâm phần bị cóng giá trong nước ấm chứ không phải nước nóng; không nên thoa bóp phần bị cóng giá, tránh gây tổn thương thêm cho tế bào, và đừng hơ bộ phận cóng giá trên lửa, heating pad vì phần cóng không còn cảm giác, dễ bị phỏng. Ngón tay cóng giá có thể đặt vào nách la ønơi có nhiệt độ cao.

      Ngoài ra, thời tiết quá lạnh cũng ảnh hưởng tới một số sinh hoạt khác như làm việc ngoài trời lạnh, lái xe trên đường băng giá. Khi phải làm việc ngoài trời vào mùa lạnh, nên có vài cẩn tắc như:

1. Sắp đặt để công việc cần làm ở chỗ lạnh được thực hiện vào thời điểm ấm áp nhất trong ngày.

2. Tránh đứng hay ngồi quá lâu ở một vị thế, khiến máu không lưu thông và nhiệt không được sản xuất.

3. Ai chưa làm quen ngoài lạnh cần tập dần dần một thời gian ngắn cho quen.

4. Uống nhiều nước ấm hoặc nước súp, tránh rượu, ít cà phê.

5. Nên nghỉ xả hơi nhiều lần trong công việc.

6. Mặc quần áo thích hợp. Hàng bông, len trong; lớp ngoài không thấm nước và ngăn được gió như hàng nylon.

7. Đội nón ấm trên đầu vì 40% nhiệt thất thoát là từ chỏm tóc.

8. Mang giầy không thấm nước với hai đôi tất: tất trong bằng bông, ngoài bằng len.

9. Đừng để bị ướt, nếu ướt, thay quần áo khô ngay.

      Còn lái xe thì việc ưu tiên là kiểm tra lại cái xe cho an toàn máy móc, từ bình nước giải nhiệt tới gạt nước trước sau; bình điện, bánh xe tốt; bình xăng gần đầy để tránh đóng băng trong bình và trong ống dẫn xăng. Rồi cẩn thận nhìn trước, ngó sau trong khi lái, để được an toàn trong mùa Đông.

À quên, còn một trở ngại khác của mùa Đông, tuy không hiểm nghèo nhưng cũng làm trạng thái tinh thần của nhiều người trầm xuống. Đó là Nỗi Buồn Mùa Đông mà ngôn ngữ Anh gọi là “Blues Winter”. Tâm trạng này xẩy ra vào cùng một thời gian của mỗi năm, thường vào đầu tháng Chín và kéo dài tới tháng Ba, tháng Tư, là thời gian mà ngày ngắn, đêm dài. Người mang “Nỗi Buồn Mùa Đông” có tất cả các triệu chứng của bệnh trầm cảm: chán chường, uể oải, không có sinh lực, ngủ nhiều… Theo thống kê thì nữ giới hay bị chứng này hơn nam giới. Nhiều giải thích cho là vì trong mùa Đông, ngày ngắn đêm dài, nên chất serotonin trong não thấp. Mà ít chất này là lý do khiến con người u sầu, ảo não. Rồi lại suốt ngày ngồi trong khung trời âm u ảm đạm, không ánh sáng thiên nhiên làm con người chán chường hơn. Ánh sáng đèn nhân tạo đã được sử dụng để chữa hiện tượng này. Người bệnh cũng được khuyên nên ra ngoài trời, phơi nắng hanh vàng nhiều hơn và gia tăng vận động cơ thể.

Hoặc, như bầy chim trốn lạnh, cứ đến cuối Thu, đầu Đông, là ta làm một cuộc Nam du, về miền nắng ấm.

Advertisements

Con số 9 với sức khỏe tình dục

T khi sơ sinh đến khi đ tui trưởng thành (theo pháp lut là 18 tui tây, tc 19 tui ta) thì “chuyn y” chưa được bàn đến. Con người ta không nên quan h vào tui này mà phi dành sc cho vic hc hành, thi c

Sau khi trưởng thành, đủ độ chín chắn, làm chồng, làm vợ thì người ta có thể kết hôn. Đây là lứa tuổi sung sức nhất của đời người (tức từ 20 đến 29 tuổi). Nhiều cô dâu chú rể cứ thắc mắc không biết quan hệ tình dục nên thế nào. Thật dễ dàng tính, chỉ cần tách số 29 ra thành 2 nhân 9 bằng 18, rồi tách số 18 ra thành 1 và 8, tức là 1 tuần có thể gần nhau 8 lần là bình thường.

Sau giai đoạn nồng cháy là đến thời kỳ cao điểm (tức từ 30 đến 39 tuổi), ta cũng tách số 39 ra thành 3 nhân 9 bằng 27, rồi tách số 27 ra thành 2 và 7, tức 2 tuần có thể gần nhau 7 lần.

Bước qua hàng bốn (tức từ 40 đến 49), ở phụ nữ đã giảm sút một số hoóc môn nhưng đàn ông vẫn còn sung sức; người vợ nên hiểu mà chiều chồng để giữ vững hạnh phúc ở tuổi này. Ta cũng tách số 49 ra thành 4 nhân 9 bằng 36, rồi tách số 36 ra thành 3 và 6, tức 3 tuần có thể gần nhau 6 lần.

Khi đã sang tuổi 50 (tức 50 đến 59 tuổi), đã làm ông làm bà, nhiều cặp vợ chồng trở nên xa cách, ngại nhắc đến chuyện ấy vì ngượng với con, với cháu. Nhưng chính vào lúc này người đàn ông dễ trở chứng nhất. Họ muốn chứng tỏ mình vẫn còn trẻ, còn khỏe mạnh sung sức và hấp dẫn nên tìm cách chinh phục các cô gái trẻ đẹp. Gia cảnh sẽ dễ dàng tan vỡ vào lúc mà người phụ nữ an tâm rằng mình đang được hưởng hạnh phúc. Vì vậy, chớ quên chuyện gần gũi lúc này chính là để giữ gìn hạnh phúc gia đình. Ta cũng tách số 59 ra thành 5 nhân 9 bằng 45, rồi tách số 45 ra thành 4 và 5, tức 4 tuần có thể gần nhau 5 lần.

Đến tuổi lục tuần (tức từ 60 đến 69 tuổi), thỉnh thoảng cũng phải “giao lưu” cho tâm hồn, thân thể trẻ trung. Ta cũng tách số 69 ra thành 6 nhân 9 bằng 54, rồi tách số 54 ra thành 5 và 4, tức 5 tuần có thể gần nhau 4 lần.

Nhiều người cho rằng thất thập cổ lai hy (tức từ 70 đến 79) rồi mà còn bày đặt thì ”hổng” giống ai. Nhưng nếu biết gìn giữ thân thể cường tráng, luyện tập thể dục, giữ cuộc sống điều độ từ trẻ thì chuyện đó vẫn có thể tiếp tục với tuần suất ít hơn: 7 x 9 = 63 (6 tuần 3 lần).

Tám mươi (tức từ 80 đến 89 tuổi) đâu phải đã ”hết date”, ca dao xưa chẳng từng hát ví rằng: “Bà già đã tám mươi tư, ngồi bên cửa sổ viết thư kiếm chồng”, huống hồ vợ chồng bên nhau nên vẫn có thể có chuyện ấy với 8 x 9: 72, tức 7 tuần có thể gần gũi 2 lần.

Cuối cùng, thay vì chúc “vợ chồng trăm năm hạnh phúc”, hãy chúc bằng lời cầu chúc đến chín mươi tuổi (tức từ 90 đến 99 tuổi), vẫn còn sức lóe sáng 9×9 = 81, tức 8 tuần 1 lần. Chỉ đến khi hơn trăm tuổi, chuyện ấy mới bị loại bỏ hoàn toàn. 

(Theo Thế Giới Phụ Nữ)

Khi nào nam giới cần đi khám hệ sinh dục?

Hãy đi gp bác sĩ ngay nếu bn phát hin vết rp hay viêm trt đu dương vt. Đó có th là biu hin nhim nm, virus herpet và thm chí c ung thư.

Bạn cũng đừng trì hoãn việc đi khám nếu có một trong các biểu hiện sau:

– Có tổn thương không đau ở thân hay đầu dương vật: Đây có thể là u sùi, giang mai hay một hình thái ung thư.

– Sưng đau ở bìu: Có thể do viêm mào tinh hoàn hay xoắn tinh hoàn.

– Tiết dịch màu vàng nhạt hay hơi xanh ở đầu dương vật: Là dấu hiệu của bệnh lây truyền qua đường tình dục hay nhiễm khuẩn niêm mạc quy đầu, viêm niệu đạo.

– Đi tiểu có cảm giác nóng rát: Là triệu chứng viêm bàng quang hay niêm mạc niệu đạo, viêm niệu đạo.

– Toàn bộ quy đầu đau và sưng: Có thể do nhiễm khuẩn quy đầu.

– Tinh dịch có lẫn máu hoặc đau khi xuất tinh: Có thể là viêm tiền liệt tuyến, viêm hay nhiễm khuẩn túi tinh. Khi cần thiết, có thể chườm nóng hay dùng thuốc giảm đau nhẹ.

– Khi giao hợp có cảm giác đau: Có thể do nhiều nguyên nhân như dị ứng với phương tiện tránh thai (thuốc diệt tinh trùng, màng ngăn…), viêm tuyến tiền liệt, nhiễm khuẩn hay âm đạo khô.

– Đau nhiều ở tinh hoàn mà không do chấn thương: Có thể do viêm mào tinh hoàn thể nặng hoặc xoắn tinh hoàn, khiến bộ phận này không có máu đến nuôi dưỡng. Cần đi khám khẩn cấp.

– Đau nhẹ quanh tinh hoàn: Có thể viêm mào tinh hoàn thể nhẹ.

– Một tinh hoàn có cục nhỏ, rắn, không đau: Nên đề phòng ung thư tinh hoàn hoặc một tổn thương lành tính ở đường dẫn tinh.

– Bìu sưng to và mềm ở một hay cả hai bên: Có thể do giãn tĩnh mạch ở bìu.

– Bìu to tròn, căng như quả bóng: Có nước ở tinh mạc. Nếu có một nang nhỏ thì có thể là do viêm mào tinh hoàn.

– Sưng to nhưng mềm ở phía trên tinh hoàn và càng to hơn khi hoạt động, khi nâng vác vật nặng hay khi ho: Có thể là thoát vị bẹn, do có một quai ruột chui vào bìu. Hiếm khi quai ruột bị xoắn nhưng nếu xảy ra thì cần phải mổ. Có loại trang phục mặc vào làm cho ruột đỡ sa và đỡ khó chịu.

BS Đào Xuân Dũng, Sức Khỏe & Đời Sống

Danh sach Trung tam Y te

 
 

Bệnh Viện Bình Dân

371 Điện Biên Phủ, P.4, Q.3

Bệnh Viện Da Liễu

69B Ngô Thời Nhiệm, P.6, Q.3

Bệnh Viện Hùng Vương

128 Hùng Vương, P.12, Q5

Bệnh Viện Miễn Phí An Bình

146 An Bình, P.7, Q.5

Bệnh Viện Miễn Phí An Nhơn Tây

An Nhơn Tây, Củ Chi

Bệnh Viện Nguyễn Trãi

314 Nguyễn Trãi, P.8, Q.5

Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương

486 Nguyễn Trãi, P.4, Q.5

Bệnh Viện Nhân Dân 115

520,Nguyễn Tri Phương, P12, Q.10

Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định

1 Nơ Trang Long, P.7, Q.Bình Thạnh

Bệnh Viện Nhi Đồng 1

2 Sư Vạn Hạnh, P.10, Q.10

Bệnh Viện Nhi Đồng 2

14 Lý Tự rọng, Q.1

Bệnh Viện Phụ Sản Từ Dũ

284 Cống Quỳnh, Q.1

Bệnh Viện Trưng Vương

266 Lý Thường Kiệt, P.14, Q10

Bệnh Viện Y học Dân tộc

179 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.7, Q3

Bệnh Viện Bệnh Nhiệt đới

190 Bến Hàm Tử, P.1, Q.5

Bệnh viện BVSKBMTE – KHHGĐ

75A Cao Thắng, P.3, Q.3

Bệnh Viện Sài Gòn

125 Lê Lợi, P. Bến Thành, Q.1

Bệnh Viện Chấn thương Chỉnh hình

929 Trần Hưng Đạo, P.1, Q.5

Bệnh ViệnTT Dinh Dưỡng trẻ em

178 Lê Văn Sỹ, P.10, Q. Phú Nhuận

Bệnh Viện Lao và Bệnh Viện Phổi PNT

120 Hùng Vương, P.12, Q.5

Bệnh Viện Mắt

280 Điện Biên Phủ, P.7, Q.3

TT Răng Hàm Mặt

263-265 Trần Hưng Đạo, Q.1

Bệnh Viện Sức khỏe Tâm thần

179 Ngô Quyền, P.6, Q.10

Bệnh Viện Tai Mũi Họng

155B Trần Quốc Thảo, P.7, Q.3

Bệnh Viện Truyền máu Huyết học

118 Hùng Vương, Q.5

Bệnh Viện Ung Bướu

3 Nơ Trang Long, Q.Bình Thạnh

TT Y tế Huyện Bình Chánh

Hương Lộ 8, H. Bình Chánh

TT Y tế Huyện Cần Giờ

Xã Cần Thạnh, H.Cần Giờ

TT Y tế Huyện Củ Chi

Xã Tân An Hội, H.Củ Chi

TT Y tế Huyện Hốc Môn

65/2B Bà Triệu, H. Hóc Môn

TT Y tế Huyện Nhà Bè

Xã Phú Mỹ, H. Nhà Bè

TT Y tế Quận 1

338 Hai Bà Trưng, Q.1

TT Y tế Quận 10

155/C5 Sư Vạn Hạnh, P.12, Q.10

TT Y tế Quận 11

137B Thuận Kiều, P.4, Q.11

TT Y tế Quận 12

27 QL 1A, P. T Chánh Hiệp, Q12

TT Y tế Quận 2

A1 Bis L Định Của, An Khánh, Q2

TT Y tế Quận 3

114-116,Trần Quốc Thảo, Q.3

TT Y tế Quận 4

65 Bến Vân Đồn, P.12, Q.4

TT Y tế Quận 5

644 Nguyễn Trãi, Q.5

TT Y tế Quận 6

A14/1 Bà Hom Cư Xá Phú Lâm B

TT Y tế Quận 7

Phường Tân Phú, Q.7

TT Y tế Quận 8

50 Lương Ngọc Quyền,P.13, Q.8

TT Y tế Quận 9

PC Trinh, Hòa Phú, Hiệp Phú, Q9

TT Y tế Quận Bình Thạnh

112AB Đinh Tiên Hoàng, P.1,Q.BT

TT Y tế Quận Gò Vấp

212 Đường 26/3,P.15, Q.Gò Vấp

TT Y tế Quận Phú Nhuận

250 Nguyễn Trọng Tuyển, P8, Q.PN

TT Y tế Quận Tân Bình

324 Lê Văn Sỹ, P.1, Q.Taân Bình

TT Y tế Quận Thủ Đức

ấp Tân Hòa, Xã Tân Phú,Thủ Đức

Viện Điều dưỡng

125/61 Âu Dương Lân, P.3, Q.8

Viện Tim

520 Nguyễn Tri Phương, P12,Q.10

Viện Y học Dân tộc

273 Nguyễn Văn Trỗi, P.10, Q.PN

TT Chẩn đoán Y khoa

254 Hòa Hảo, Q. 10

 
 

Suu Tam ManhVT

Theo ykhoanet

Xin đừng lạm dụng men tiêu hóa cho trẻ

Tác gi : BS. PHM TH THC

.Nuôi con ai cũng muốn con mình khỏe mạnh, trẻ ăn ngon miệng, ăn được nhiều khiến bố mẹ rất yên tâm. Khi thấy trẻ biếng ăn là bố mẹ lo lắng, tìm mọi cách để con mình ăn được nhiều hơn, trong đó có việc sử dụng men tiêu hóa. Nhưng nhiều trường hợp đã dùng men tiêu hóa kéo dài tràn lan dẫn đến hậu quả không tốt cho sức khỏe của trẻ..

Một trong hai hoạt động cơ bản để bộ máy tiêu hóa thực hiện được chức năng tiêu hóa thức ăn là hoạt động bài tiết có tác dụng cung cấp dịch tiêu hóa có chứa các men (enzym) xúc tác các phản ứng hóa học nhờ đó việc tiêu hóa thức ăn trong ống tiêu hóa xảy ra rất nhanh.

Men tiêu hóa là một hỗn hợp các enzym khác nhau có tác dụng chuyển hóa các thức ăn chủ yếu là chất bột đường chất đạm và chất béo. Đó là những xúc tác sinh học cho hầu hết các phản ứng chuyển hóa thức ăn xảy ra trong cơ thể sống. Ta hãy xem các men tiêu hóa được bài tiết trong cơ thể như thế nào.

.Hệ tiêu hóa bắt đầu từ miệng: Tại đây dịch bài tiết là nước bọt trong đó chủ yếu có men Amylaza có tác dụng phân giải tinh bột chín thành đường Mantoza. Ngoài ra còn có chất nhầy để bảo vệ niêm mạc miệng và làm thức ăn được trơn dễ nuốt.

Đến dạ dày thì dịch vị gồm các men tiêu hóa, acid clohydric (Hcl) và chất nhầy.

Men tiêu hóa ở dạ dày

– Pepsin được bài tiết dưới dạng chưa hoạt động là pepsinogen. Trong môi trường toan (pH < 5,1) được hoạt hóa thành pepsin hoạt động, phân giải protein của thức ăn thành các mạch dài (polypeptra) hoặc ngắn (pepton).

– Lipase: Tác dụng tiêu hóa lipid của thức ăn đã được nhũ tương hóa (lipid của trứng và sữa) bằng cách cắt liên kết este giữa glycerol với acid béo thành acid béo và monoglycerid.

– Men sữa – caseinogen (Lact – ferment remin) phối hợp với ion Ca++ phân giải protein hòa tan của sữa thành các caseinat Ca kết tủa được giữ lại ở dạ dày, còn phân lỏng gọi là nhũ thanh được đưa ngay xuống ruột non. Nhờ đó dạ dày có thể tiếp nhận một thể tích sữa lớn hơn dung tích của chính nó.

Acid clohydric (Hcl) làm tăng hoạt tính của pepsin. Phá vỡ vỏ liên kết bao bọc quanh các bó sợi cơ trong thức ăn và hòa tan Mcleoprotid tạo điều kiện cho pepsin tiêu hóa protein, ngoài ra Hcl còn có tác dụng sát khuẩn.

Chất nhầy có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày. Chất glycopde đặc biệt có trong chất nhầy giúp vitamin B12 được hấp thu dễ dàng hơn tránh bị thiếu máu.

Như vậy ổ dạ dày thức ăn mới chỉ bắt đầu được tiêu hóa khoảng 30-40%, tinh bột chín được biến thành Mantoza và Dextrin, protein được hòa tan, một phần được phân hủy thành pepton và polypeptid. Chỉ có lipid của trứng và sữa là được tiêu hóa ở dạ dày. Đây là một quá trình chuẩn bị để thích hợp với quá trình tiêu hóa tích cực và triệt để hơn ở ruột non.

Ruột non là nơi hoàn tất quá trình tiêu hóa các thức ăn và thực hiện hấp thu các chất dinh dưỡng qua niêm mạc vào máu. Ở ruột non có 3 loại dịch tiêu hóa là dịch tụy, dịch mật và dịch ruột.

Dịch tụy: Có đủ các loại men để tiêu hóa protin, lipid và glucid.

– Men tiêu hóa protid: gồm có trypsin, chymotrysin và carboxypeptidase. Tác dụng phân giải protein của thức ăn thành polypeptid sau đó lại phân giải polypeptid thành các dipeptid acid amin.

– Men tiêu hóa lipid: Bao gồm lipase tụy phân giải được gần như hoàn toàn triglycerid của thức ăn do ở ruột có mật làm cho lipid của thức ăn bị nhũ tương hóa. Còn có phospholipase phân giải mọi loại phospholipid của thức ăn và cholesterol esterase phân giải este của cholesterol thành acid béo và sterol.

Với nhóm men này mọi loại lipid của thức ăn đã bị tiêu hóa hoàn toàn thành glycerol và acid béo.

– Men tiêu hóa glucid: Gồm Amylaza phân giải cả tinh bột chín và sống thành Maltose và Maltase phân giải Maltose thành glucose.

– Như vậy trong thực tế dịch tụy có thể thay thế cho tất cả các dịch tiêu hóa khác. Khi bị suy dinh dưỡng, tuyến tụy bị teo đét, khả năng bài tiết dịch tụy giảm đi làm rối loạn nghiêm trọng việc tiêu hóa và hấp thu.

Dịch mật: Do gan bài tiết ra. Mật gồm muối mật và sắc tố mật. Muối mật làm nhũ tương hóa tất cả các lipid thức ăn làm tăng tác dụng của các men tiêu hóa, góp phần hấp thu các sản phẩm tiêu hóa của lipid. Muối mật còn cần thiết cho việc hấp thu các vitamin tan trong dầu gồm vitamin D, A, E, K.

Dịch ruột: Cũng có đầy đủ các nhóm men tiêu hóa protein, lipid và glucid.

Men tiêu hóa protid gồm aminopeptidase, dipeptidase… có tác dụng phân giải các peptid, dipeptid thành các acid amin để cơ thể hấp thu được.

Các men này không tác dụng thẳng lên protid của thức ăn mà chỉ tiếp tục tác dụng lên các chất dinh dưỡng đã bị các men của dịch vị và dịch tụy công phá.

Men tiêu hóa lipid có lipase, cholesterol esterase và phốtpho lipase. Và men tiêu hóa glucid có Amylase và Maltase, ngoài ra còn có saccharase, phân giải saccharose (đường mía) thành glucose và galactose.

Qua phần giới thiệu trên, chúng ta thấy men tiêu hóa được bài tiết ở nhiều bộ phận của hệ thống tiêu hóa. Khi trẻ biếng ăn ngoài việc tìm các nguyên nhân thực thể để điều trị thì việc dùng men tiêu hóa để kích thích cho trẻ ăn nhiều hơn ngon hơn chỉ nên kéo dài 7-10 ngày. Sau đó trẻ ăn tốt hơn, hệ thống tiêu hóa của cơ thể lại tự bài tiết ra các men tiêu hóa và còn một số dịch khác ngoài men sẽ giúp cho việc tiêu hóa như Neopeptin có Amylase (tiêu hóa tinh bột) Papain (tiêu hóa đạm). Viên men Pepsin cũng có tác dụng tiêu hóa tinh bột hoặc viên Pancrelase có pancreatin.

Mặt khác hiện nay nhiều người còn nhầm tưởng các thuốc Antibio, Lactomin-plus, Bioflor v.v… là men tiêu hóa. Đó là các chế phẩm vi sinh chứa các loại vi khuẩn lành tính được đưa vào ruột trong điều kiện ruột bị mất cân bằng về vi khuẩn (gọi là loạn khuẩn) thường xảy ra khi dùng kháng sinh kéo dài.

Chú thích ảnh:

– Hướng dẫn cách chăm sóc và dinh dưỡng cho trẻ tại BV. Từ Dũ.

– Không nên lạm dụng men tiêu hóa cho trẻ.

Suu Tam ManhVT

Theo ykhoanet