Van de liên quan đến phát triển TTCK Việt Nam

Vừa qua Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) có nhận được bản đánh giá và khuyến nghị của IMF liên quan đến phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, sau đây là những nội dung tóm lược chủ yếu của văn bản này để độc giả có thêm thông tin về những đánh giá đối với TTCK Việt Nam:

1. Về đánh giá TTCK

– Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã phát triển chưa từng có trong năm 2006 cả về số lượng công ty niêm yết và chỉ số chứng khoán. Thị trường vẫn tiếp tục diễn biến sôi động vào những tháng đầu năm 2007.

– Các yếu tố dẫn tới sự phát triển đó bao gồm:

+ Tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam được tiếp tục đánh giá khả quan và việc Việt Nam trở thành thành viên WTO đã thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tăng mạnh từ tháng 11/2006 và tiếp tục tăng trong thời gian tới nếu cơ hội đầu tư tại Việt Nam tăng lên. Các nhà đầu tư trong nước, kể cả các ngân hàng trong nước và các công ty tài chính phi niêm yết rất có thể đã góp phần gây ra bùng nổ TTCK nhiều hơn là luồng vốn nước ngoài chảy vào.

+ Cầu chứng khoán mạnh đã dẫn đến cổ phiếu bị định giá quá cao trong bối cảnh cung chứng khoán mới phát hành bị hạn chế. Một số yếu tố cơ bản khác có lẽ đã góp phần làm tăng mạnh định giá chứng khoán như: tốc độ hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu nhanh; những lợi ích hiệu quả thu được từ tự do hoá thương mại, cải cách thị trường sau khi gia nhập WTO, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tính minh bạch được cải thiện với việc bắt đầu áp dụng chế độ báo cáo tài chính của nhiều công ty.

– Theo ước tính của IMF hệ số giá/lợi nhuận (P/E) trung bình của 20 công ty lớn nhất (chiếm 99% vốn hóa của thị trường) niêm yết trên TTGDCK TPHCM là khoảng 73 tính đến tháng 1/2007. Hệ số này là rất cao so với hầu hết các chuẩn mực thị trường khác. Mặc dù việc xuất hiện những đợt tăng giá chứng khoán nhanh và tăng hệ số P/E là hiện tượng phổ biến trên thị trường mới nổi đang phát triển nhanh nhưng vẫn là rất cao so với hầu hết các chuẩn mực thị trường khác. Bảng dưới đây cho thấy điều này.

Một số nước Châu Á cũng đã trải qua những thời kỳ tăng giá chứng khoán tương tự (thậm chí còn cao hơn) như minh hoạ ở bảng dưới đây, nhưng không có một nước nào có hệ số P/E trung bình cao như Việt Nam.

2- Về những rủi ro liên quan đến bùng nổ TTCK và phản hồi các biện pháp, chính sách đã được thực thi

Những rủi ro

– Việc cho vay mua chứng khoán của ngân hàng không được kiểm tra và luồng vốn đầu tư gián tiếp ngày càng tăng tiếp tục làm bùng nổ TTCK làm tăng rủi ro liên quan đến TTCK của NHTM và tăng khả năng TTCK có sự điều chỉnh lớn trong thời gian tới. Sự điều chỉnh có thể sẽ đe doạ đến khả năng thanh khoản của các NTHM thiếu vốn. Thậm chí, nếu NHTM đã tích luỹ rủi ro liên quan đến TTCK đủ lớn thì nguy cơ rất lớn.

– Đối với tài chính đối ngoại, khó có thể duy trì mức thâm hụt cán cân vãng lai hợp lý trong trường hợp dòng vốn chảy vào dừng đột ngột hoặc bị đảo chiều (chảy ra). Hiện tại, luồng vốn đầu tư gián tiếp đổ vào làm cán cân thanh toán thặng dư lớn nhưng cán cân vãng lai có thể trở lại trạng thái thâm hụt lớn trong thời gian tới khi nhu cầu nhập khẩu tăng do giảm thuế nhập khẩu sau khi gia nhập WTO.

– Ngay cả khi giá chứng khoán tiếp tục ở xu thế tăng trong một thời gian tương đối dài thì luồng vốn chảy vào lớn có thể gây khó khăn cho việc thực thi chính sách tiền tệ và tỷ giá.

Phản hồi chính sách

– NHNN ban hành QĐ số 03/2007 ngày 19/01/2007 bổ sung và sửa đổi một số qui định về tỷ lệ an toàn đối với tổ chức tín dụng và hạn chế qui mô đối với các khoản cho vay mới của các ngân hàng để mua chứng khoán

– UBCKNN đã gửi 1 số công văn tới công ty chứng khoán và các nhà quản lý quỹ đầu tư đề nghị cung cấp thông tin về giao dịch chứng khoán gần đây và yêu cầu các văn phòng đại diên của các quỹ đầu tư nước ngoài đăng ký lại với UBCKNN. UBCKNN cũng thắt chặt thực thi những qui định liên quan đến tính minh bạch của thị trường và yêu cầu các công ty niêm yết cải thiện việc cung cấp thông tin tới công chúng chính xác và kịp thời.

– Ngày 29/01/2007 Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho Bộ Tài chính, NHNN, UBCKNN tăng cường việc giám sát hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài liên quan đến TTCK, thắt chặt việc thực thi những qui định về TTCK và cải thiện thông tin tới công chúng đầu tư vào TTCK.

Những phản hồi chính sách của các nhà chức trách cho đến nay đã bao gồm những biện pháp thắt chặt quy định về thị trường chứng khoán và thanh tra giám sát, hạn chế những tác động xấu tới hệ thống ngân hàng từ thị trường chứng khoán. Trong lĩnh vực chính sách tiền tệ và tỷ giá đang phối hợp chính sách tăng tích lũy dự trữ mạnh đi kèm với dung hòa vốn khả dụng và gần dây đã tiến một bước tới một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn. Phản hồi chính sách này nhìn chung là phù hợp.

3- Những lựa chọn chính sách trong thời gian tới

+ Khuôn khổ pháp lý gắn với sự an toàn

– Để hạn chế những rủi ro phát sinh do bùng nổ TTCK, các nhà chức trách cần phải thắt chặt hơn nữa những biện pháp duy trì an toàn, đặc biệt là nên chuyển theo hướng tập trung vào quản lý rủi ro liên quan đến TTCK đối với các ngân hàng thương mại. Về nguyên tắc, chỉ những ngân hàng có cơ chế quản lý rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng tốt, có cán bộ được đào tạo tốt mới được cấp phép tín dụng để mua chứng khoán hoặc chấp nhận những rủi ro khác liên quan đến TTCK.

– Những quy định về thị trường chứng khoán cần đảm bảo những biện pháp kiểm soát biến động giá cả có vai trò như là một cầu chì trong mạch điện.

+ Các biện pháp chính sách khác

(i) Các chính sách tiền tệ và tỷ giá

Trường hợp thâm hụt cán cân vãng lai còn được kiềm chế và luồng vốn chảy vào vẫn dồi dào thì nên tiếp tục chính sách tích lũy đủ dự trữ để dễ dàng đáp ứng những nhu cầu về cán cân thanh toán trong trường hợp luồng vốn đầu tư gián tiếp hiện tại có thể đảo chiều trong tương lai. Tuy nhiên, NHNN cũng cần thắt chặt tiền tệ và kiềm chế sự tăng trưởng cho vay của ngân hàng.

NHNN có thể linh hoạt hơn trong việc quản lý VND, cho phép tỷ giá hơi giảm giá nhanh hơn nếu dòng vốn đổi chiều để giúp giảm áp lực đối với dự trữ.

(ii) Các chính sách quản lý nợ và ngân sách

– Chính sách quản lý nợ và ngân sách thận trọng để giữ vai trò hỗ trợ quan trọng trong việc kiềm chế thâm hụt cán cân vãng lai đối ngoại và bảo vệ tính bền vững của nợ trung hạn.

– Sự tăng giá bất thường của chứng khoán Việt Nam năm ngoái phản ánh cầu của các nhà đầu tư đối với chứng khoán Việt Nam tăng lên, điều đó sẽ tạo một môi trường thuận lợi để Chính phủ thúc đẩy thực hiện chương trình cổ phần hóa các DNNN và các NHTMNN trong thời gian 2007-2008.

– Chính phủ cần nỗ lực hơn nữa để cải thiện tính minh bạch và củng cố việc thực thi những quy định liên quan đến các giao dịch chứng khoán nhằm bảo vệ tính toàn vẹn và độ tin cậy của thị trường chứng khoán như là một nguồn tài chính quan trọng trong trung hạn.

– Cần đặc biệt lưu ý duy trì tiêu chuẩn niêm yết nghiêm ngặt để đảm bảo rằng tất cả các công ty niêm yết phải đạt yêu cầu về công bố thông tin phù hợp với những chuẩn mực quốc tế và tăng cường tính an toàn, xử phạt các giao dịch nội gián.

(iii) Vai trò có thể có của kiểm soát vốn

Tính hiệu quả và những lợi ích được mong đợi từ những biện pháp kiểm soát vốn cần phải được cân nhắc thật cẩn thận so với những chi phí có thể phải trả đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO và cam kết mở rộng hội nhập quốc tế. Báo cáo nêu tóm tắt kinh nghiệm của một số nước (Chi lê, Malaysia, Nga, Thái lan) đối với kiểm soát vốn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: