Làm thế nào để bạn trở thành một Freelancer thành công

Làm thế nào để bạn trở thành một Freelancer thành công? Sau đây là một số phẩm chất mà một Freelancer cần có:
• Kinh nghiệm(Experience): Tất nhiên rồi, bạn cần phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực mà ban muốn tham gia. Đây là công việc bạn thực sự bắt tay vào làm do vậy khách hàng sẽ dễ dàng nhận ra bạn là người có kỹ năng hay không. Bạn tỏ ra là người có kinh nghiệm, bạn sẽ dễ thuận lợi khi tìm đối tác.
• Tin cậy(Reliability): Trong bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào, sự hài lòng của khách hàng sẽ mang lại lợi nhuận to lớn cho bạn. Điều này bao gồm sự đúng hẹn của bạn, và những giao tiếp của bạn với khách hàng. Hãy giữ liên lạc và cho họ thấy bạn đang làm việc cho họ.
• Duy trì sự tập trung(Staying focused): Làm việc tự do bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào bạn muốn đó là một thách thức rất lớn. Bạn phải biết tổ chức và kỷ luật nghiêm ngặt đối với bản thân. Điều đó có nghĩa là bạn phải biết tự quản lý chính bạn. làm được điều này bước đầu bạn đã thành công trên con đường trở thành một freelancer.
• Khả năng tìm hiểu nhanh (Ability learning fast): Bạn được thuê làm một vài việc gì đó cho một ông chủ mà không có các quyền lợi như là một nhân viên, tất cả đó là outsourcing. Bạn cần phải nhanh chóng hiểu được yêu cầu của khách hàng và nhanh chóng đáp ừng mong đợi của khách hàng. Vì vậy kỹ năng này không thể thiểu đối với một Freelancer.
• Năng động (Flexibility): Bạn luôn phải thay đổi theo ý của khách hàng. Khách hàng trả tiền cho bạn để làm việc này. Nếu không bạn hãy yêu cầu họ.
• Tổ chức (Orgnization): Freelancer luôn phải biết tổ chức công việc hợp lý, vì một lúc họ có thể phải quan tâm đến nhiều khách hàng. Vì vậy để làm tốt họ phải tổ chức được thật tốt công việc.
• Tự nỗ lực (Self movitation): Luôn nỗ lực không ngừng, tự nâng cao kinh nghiệm cũng như kỹ năng về lĩnh vực mà Freelancer tham gia.
• Kiên trì và bền bỉ(Persistence): Bạn luôn phải kiên trì bền bỉ, luôn luôn nỗ lực làm khách hàng hài lòng.
• Chuyên nghiệp: (professionalism)
• Có thể nói “Không” (Being able say “No”) và cũng chấp nhận không.
• Tin tưởng(Confident): Những thành công của freelancer là sự tự tin của bản thân, đáp ững được các yêu cầu khó khăn nhất của khách hàng.

Mike Vu.

Rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) ứng dụng CNTT đều gặp ba thách thức: nhận thức – nhân lực và khả năng cung ứng các sản phẩm và dịch vụ CNTT tốt cho SMEs còn hạn chế.

Câu chuyện thứ nhất: Công ty Cổ phần Kết nối Truyền thông Việt Nam thiết kế website cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu nhưng lại host ở nước ngoài nên không có hóa đơn mua tên miền. Công ty chỉ có bản xác nhận của Ngân hàng phía Việt Nam về việc đã thanh toán chi phí hosting bằng thẻ. Rắc rối xảy ra khi Chi cục Thuế Hai Bà Trưng nhất quyết không chấp nhận bản xác nhận, bắt buộc phải có hợp đồng hosting mới được thanh toán thuế đầu vào. Công ty đành bó tay chịu trận bởi không thể kiếm được hợp đồng khi ở nước ngoài, thanh toán trực tuyến đã trở thành chuyện thường tình. Câu chuyện thứ hai: Công ty Thương mại Viễn Đông đã nhiều lần lên mạng mua hàng của các công ty quốc tế, nhưng cũng đã vấp phải những rắc rối đáng bực mình. Các cơ quan thuế và hải quan Việt Nam yêu cầu phải có hợp đồng đã được ký kết chính thức giữa Công ty và đối tác nước ngoài thì mới thanh toán đầu vào, không chấp nhận việc thanh toán bằng thẻ. Trong khi đó, các đối tác quốc tế thông báo không dư sức để ký hợp đồng với từng khách hàng, nhất là khi thực hiện rất nhiều giao dịch hàng ngày. Câu chuyện thứ ba: Cũng vẫn Công ty Thương mại Viễn Đông, một lần háo hức lên siêu thị ảo của VDC để mua hàng, nhưng 8 tiếng sau khi click vào món hàng muốn mua, phía bán hàng vẫn chẳng có hồi âm về việc hàng còn hay hết. Đến sáng hôm sau, khách hàng mới được thông báo về sản phẩm. Chậm trễ như vậy thì “Thượng đế” nào đủ kiên nhẫn để chờ. Câu chuyện thứ tư: Nhiều SMEs đã thử kinh doanh bằng phương thức điện tử, nhưng kém hiệu quả. Đối tượng khách hàng chủ yếu nhỏ lẻ vẫn quen thanh toán theo phương thức truyền thống, bởi bản thân khách hàng cũng chưa ứng dụng CNTT và cách thức thanh toán truyền thống xem ra vẫn có hiệu quả kinh tế cao hơn. Tính toán một cách đơn giản, muốn in một hóa đơn bán hàng, cần phải mất ít nhất một tờ giấy, chưa kể chi phí cho điện, hao mòn máy, trong khi đó, chỉ cần hai nghìn đồng đã có thể mua được một quyển phiếu thu, dùng nửa tháng mới hết. Việc thanh toán qua mạng chưa đảm bảo sự an toàn cho doanh nghiệp (cần nhấn mạnh đây là SMEs chứ không phải doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn, họ đang rất cần phải bảo toàn vốn để có thể kiếm thêm lãi). Chỉ vài ví dụ nhỏ trong lĩnh vực kinh doanh điện tử thôi cũng đã thấy còn rất nhiều khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Rào cản về nhận thức, nhân lực và ứng dụng Tìm hiểu thêm về những thách thức đối với SMEs trong việc ứng dụng CNTT thì thấy trước hết ở vấn đề nhận thức. Rất nhiều doanh nghiệp khẳng định đã nhận thức rõ về việc ứng dụng CNTT, song thực tế chỉ có số ít hiểu được đầy đủ điều này. “Đầy đủ” nghĩa là phải trả lời được cả 3 câu hỏi: Tại sao phải ứng dụng; ứng dụng cái gì cho phù hợp với đặc thù của mình; ứng dụng như thế nào. Đa phần doanh nghiệp mới trả lời được câu hỏi thứ nhất, dẫn đến tình trạng đầu tư chưa đúng hướng hoặc còn hạn chế – phần lớn chi phí dành cho trang thiết bị, cơ sở hạ tầng chứ chưa chú trọng tới giải pháp, đào tạo. Thách thức thứ hai – nguồn nhân lực. Chẳng phải giám đốc SMEs nào cũng có trình độ về CNTT và quan tâm đúng mức tới CNTT. Ông Nguyễn Văn Thảo, Tổng Thư ký Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam nói vui “nếu giám đốc mê cầu lông thì phong trào chơi cầu lông ở doanh nghiệp lên rất mạnh. Khi nào giám đốc điều hành công việc bằng CNTT thì lúc đó tự khắc các thành viên trong doanh nghiệp sẽ làm việc bằng công nghệ thông tin”. Thực tế đã được chứng minh, ở Trung tâm Công nghệ Thông tin CDiT, Giám đốc điều hành toàn bộ công việc qua mạng nên từ lái xe đến trưởng phòng đều phải vào mạng để xem mình phải làm việc gì. Tuy nhiên cũng phải xét tới điều kiện đó là những doanh nghiệp lớn, còn với các SMEs, nhiều đơn vị chưa có cả máy fax, giám đốc phải lo từng ngày để trả lương đúng hạn cho nhân viên thì cũng khó nói tới việc ứng dụng CNTT. Thứ ba – khả năng cung ứng các sản phẩm và dịch vụ CNTT tốt cho SMEs còn hạn chế. Rất dễ tìm phần mềm kế toán nhưng khó tìm được những sản phẩm đặc thù như thiết kế cho ngành may, ngành cầu đường. Chưa kể chất lượng sản phẩm không tốt, giá lại cao so với khả năng của SMEs. Theo một nghiên cứu về thị trường dịch vụ kinh doanh ở Việt Nam, hơn 70% doanh nghiệp ở Việt Nam (trong đó có cả SMEs) không thỏa mãn với các dịch vụ được cung cấp. Về thực trạng ứng dụng CNTT trong các SMEs, Hiệp hội Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội cho biết, trong 132.000 SMEs ở Việt Nam, chỉ có hơn 5.000 doanh nghiệp sử dụng Internet, nghĩa là có tới gần 90% doanh nghiệp đứng ngoài “cuộc chơi” thương mại điện tử. Chưa tới 10% doanh nghiệp có trang web nhưng thông tin chỉ đơn thuần là giới thiệu doanh nghiệp, sản phẩm, ít có giao dịch và thanh toán trực tuyến. Chỉ có 10% doanh nghiệp quan tâm đến thương mại điện tử và khoảng 7–8% doanh nghiệp bắt đầu triển khai mạng thương mại. Kết quả thăm dò ý kiến năm 2002 của Quỹ Phát triển Chương trình Mêkông đối với 100 SMEs ở Việt Nam cho thấy 48% doanh nghiệp sử dụng Internet chỉ để gửi và nhận email, khoảng 33% doanh nghiệp có kết nối Internet nhưng không dùng để hỗ trợ kinh doanh. Bà Kelly Hutchinson, tư vấn viên của Ủy ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (UN ESCAP) nhận định: “Các dịch vụ phát triển kinh doanh điện tử trong các SME cần được hỗ trợ nhiều hơn nữa. Các SMEs sử dụng CNTT như một công cụ để phát triển kinh doanh, đặc biệt là liên hệ với khách hàng nhưng họ thiếu cơ sở vật chất, an ninh, trình độ và các nguồn lực khác để ứng dụng CNTT. Những điều này đã làm cho các SME không thể ứng dụng CNTT để trở thành doanh nghiệp có tính cạnh tranh hơn được”. * Minh Huệ

Đào tạo nhân viên online: Một hình thức đào tạo hiệu quả

Hanoinet – E-Learning ngày càng chứng tỏ được vai trò trong hệ thống đào tạo của các công ty. Câu hỏi đặt ra đối với nhiều công ty không phải là khi nào sử dụng e-Learning, mà sử dụng e-Learning như thế nào, dưới hình thức ra sao.

Nhiều năm qua, phần lớn các tập đoàn toàn cầu sử dụng hình thức đào tạo nhân viên o­nline (e-Learning) như một hình thức đào tạo hiệu quả. Một cuộc nghiên cứu của The e-Learning Guild cho thấy 73% thành viên của họ tham gia các khóa học o­nline và có đến 95% số người cho biết họ áp dụng hiệu quả những kiến thức và kỹ năng đã học vào công việc hàng ngày.

Đối với những người làm công tác quản lý, e-Learning càng thể hiện ưu thế của mình, giúp giảm đến hơn 50% thời gian cho các khóa huấn luyện, điều này đồng nghĩa với việc nhân viên có nhiều thời gian làm việc tại công ty hơn. Nhân viên các công ty cũng rất thích học o­nline vì họ có thể học mọi lúc, mọi nơi.

Sự thuận tiện và lợi thế về chi phí sẽ kéo dài tuổi thọ của e-Learning. Những nghiên cứu gần đây cho thấy xu hướng phát triển của e-Learning trong tương lai như sau:

1. Sẽ có sự kết hợp giữa e-Learning và những phần mềm khác trong công ty như Human Resource Information System, Recruitment Tracking System, Enterprise Management System và những cơ sở dữ liệu, hệ thống báo cáo trong nội bộ công ty. Xu hướng hiện nay là e-Learning được mở rộng trong toàn bộ công ty.

Có thể lấy một ví dụ như sau: một buổi hội thảo trên website về việc phát triển sản phẩm mới với mục đích ban đầu như một bài tập tình huống để huấn luyện cho nhân viên, nhưng khi có sự tham gia đóng góp ý kiến của các phòng ban để phân loại khách hàng hoặc được sử dụng bởi những nhà quản trị cấp cao, nó đã biến thành một cơ hội phát triển sản phẩm thật sự. Kết quả của sự kết hợp này là các công ty tìm kiếm những hệ thống học o­nline thích ứng với nhiều phần mềm khác nhau và họ chỉ cần mua những hệ thống, phần mềm phụ phù hợp với nhu cầu sử dụng của họ.

2. E-Learning ngày nay được sử dụng cả trong những khóa học truyền thống lẫn hiện đại. Điều này cho thấy những phương pháp học truyền thống và hiện đại có thể kết hợp với nhau để mang lại hiệu quả cao hơn trong những buổi huấn luyện của công ty. Những buổi học truyền thống có thể sử dụng trước hoặc sau những buổi học o­nline. E-Learning cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ nhân viên bổ sung kiến thức dưới hình thức newsletters trong thời gian làm việc. Hình thức học này sẽ ngày càng được phổ biến trong thời gian sắp tới và sẽ trở thành một phần trong công việc hàng ngày của nhân viên, xóa mờ ranh giới giữa việc làm và học tập bổ sung kiến thức.

3. Ngày càng có nhiều công ty nhỏ sử dụng e-Learning trong quá trình đào tạo của họ. Cách đây không lâu, chỉ có những công ty lớn mới có đủ nhân viên và tài chính để mua và sử dụng e-Learning. Tuy nhiên, do chi phí ngày càng giảm nên Learning Management System đã được sử dụng rộng rãi trong các công ty trong năm năm nay. Các công ty nhỏ ngày nay đã có thể sử dụng e-Learning trong chương trình huấn luyện của mình. Trong tương lai, Learning Management System ngày càng dễ sử dụng hơn.

4. Bản tin mới nhất của Innovate (http://www.innovateonline.info/, một tờ báo về giáo dục o­nline) đã phác họa những nét đặc trưng của một thế hệ lớn lên cùng sự phát triển của Internet và khẳng định rằng việc gia nhập một công ty nào đó đồng nghĩa với việc phải thu thập kiến thức và kinh nghiệm thông qua những bài học được cung cấp trên mạng nội bộ hoặc trên Internet. Những nhân viên thuộc thế hệ mới này đã quá quen với việc sử dụng Internet và dễ dàng chấp nhận e-Learning như một phương pháp huấn luyện trong công ty.

5. Giám đốc phụ trách đào tạo sẽ thiết lập những khóa học o­nline phù hợp với nhu cầu của từng nhân viên và chính nhân viên công ty là người quản lý hệ thống e-Learning. Do các công cụ đó được đơn giản hóa, việc quản lý và sử dụng chúng cũng giống như sử dụng Word hoặc Excel nên nhân viên không cần phải tham dự bất kỳ khóa huấn luyện đặc biệt nào. Hơn nữa, Learning Management System được viết trên nền website có giao diện thân thiện với người học nên sẽ khiến nhân viên tích cực tham gia các khóa học mà không cần phải áp dụng bất kỳ biện pháp khuyến khích nào khác.

E-Learning ngày càng chứng tỏ được vai trò trong hệ thống đào tạo của các công ty. Câu hỏi đặt ra đối với nhiều công ty không phải là khi nào sử dụng e-Learning, mà sử dụng e-Learning như thế nào, dưới hình thức ra sao.

Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Nguồn: http://ocd.vn

Ứng dụng 2.0 nào không thể thiếu với bạn?

Mike Arrington vừa công bố danh sách các ứng dụng web 2.0 mà ông “couldn’t live without” trong năm 2008:

Trong danh sách trên, ngoài một vài cái quá đặc thù và các web nghe nhạc trực tuyến, tôi dùng hầu hết các ứng dụng đã được nhắc tới. Trong số này tôi có vài nhận xét:

  1. del.icio.us là site bookmark hàng đầu, tôi đang dùng một plugin của Firefox để giúp bookmark các bài viết ưa thích nhanh hơn. Điều phiền toái duy nhất là cách tag theo từ, chứ không phải cụm từ làm cho danh mục bị phân mảnh và khó tìm được bài lưu trữ. Ngoài ra, nhiều trang web đã biến mất sau một thời gian.

  2. Digg chủ yếu để theo dõi các tin nóng. Nhưng đa số là tin “made in USA” nên nhiều khi khá vô bổ.

  3. Firefox: Khỏi cần nói, tôi dùng Firefox làm trình duyệt mặc định với hàng chục plugin. Đây chính ứng dụng mà tôi “couldn’t live without”. Tuy nhiên có lẽ do overuse trình duyệt này nên nó chiếm RAM kinh khủng. Disclosure: gần hơn 70% người truy cập vào blog này dùng Firefox.

  4. Flickr: Tôi không dùng ứng dụng này nhiều do ít có hứng thú chụp hình, chủ yếu để lưu trữ hình của gia đình.

  5. Gmail: Sure, đây là ứng dụng mail cách mạng.

  6. Google Reader: Tôi không khoái trình đọc RSS này lắm vì nó hơi thô sơ. Tôi dùng FeedReady!

  7. Netvibes: Tôi là fan của Netvibes, với hàng ngàn plugin đây là trang chủ trên cả tuyệt vời.

  8. TechMeme: Trang web nên đọc hàng ngày cho dân sính công nghệ.

  9. Technorati: Tôi dùng nó chủ yếu để xem xếp hạng blog.

  10. WordPress: Tất nhiên đây là ứng dụng không thể thiếu vì blog này làm trên WordPress. Nhiều plugin của WordPress rất có giá trị nhưng đôi khi phải mất khá nhiều thời gian mới dùng được.

  11. YouTube: Quá chậm nếu xem từ Việt Nam. Tôi thích Clip.vn hơn.

  12. Zoho: Tôi ít dùng Zoho vì nó hơi chậm so với Google Docs.

Tôi vẫn chưa dùng Twitter, không biết có ứng dụng nào tương tự ở Việt Nam chưa? Còn những ứng dụng 2.0 mà bạn không thể thiếu là gì?

Theo http://www.web2vietnam.com

Định Hình Chiến Lược Web Của Microsoft Qua Live Mesh Căn bản, Microsoft

Hôm qua bản thử nghiệm của Live Mesh đã đến với 10.000 người đăng ký đầu tiên và thế giới đã có thể định hình chiến lược mới về Web của Microsoft.

Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu một chút xem thực sự Live Mesh là gì?

Live Mesh Là Gì?

diagram_top.png

+ Giới Thiệu: Mesh là một dịch vụ giúp bạn đồng bộ (synchronize) tài liệu, hình ảnh, feeds, các cài đặt trên nhiều máy tính, thiết bị. Nếu bạn nào đã dùng plugin Foxmarks thì đều biết đây là dịch vụ giúp bạn đồng bộ các bookmark của Firefox trên nhiều máy tính khác nhau. Ví dụ: Tôi đang xem một bài viết hay trên blog “Người Tập Viết” và muốn bookmark lại để tham khảo sau; nhưng khi về nhà tôi lại không tìm được link tới bài viết này vì lưu tôi bookmark trên Firefox ở máy của công ty. Sau khi cài Foxmarks thì đây không còn là vấn đề vì nó sẽ tự động xem có bookmark nào mới hay bị xóa/sửa và “đồng bộ hóa” chúng trên tất cả các bản Firefox mà tôi dùng.

Mesh cung cấp dịch vụ ở mức cao hơn, dịch vụ này có khả năng đồng bộ hóa tất cả các tài liệu, tập tin và cả các thiết đặt trong các ứng dụng từ máy này sang máy kia. Và nếu nó hoạt động như Microsoft hứa hẹn thì trong tương lai không xa nếu tôi đặt font chữ “VNI-Times” là mặc định trong ứng dụng Word (for Mesh?) tại máy tính ở công ty thì khi mở máy ở nhà Word của tôi cũng sẽ tự động đổi sang “VNI-Times” làm font mặc định và cả Word trong cái O2 cũng vậy (chỉ là giả dụ vì tôi không dùng O2, một loại smart phone chạy trên HĐH Windows mobile). Đương nhiên các tài liệu viết trên bản Word này cũng sẽ được đồng bộ trên tất cả các máy tính kết nối với Live Mesh.

+ Thành phần và Chức năng: Live Mesh bao gồm 2 thành phần chính là một dịch vụ web mà bạn có thể đăng ký các máy móc bạn muốn đưa vào dùng (như máy tính, mobile phone…) trong Mesh và một phần mềm có gói cái đặt dung lượng 2MB, gọi là Môi trường điều hành Mesh — Mesh Operating Environment (MOE), giúp bạn tích hợp Mesh vào Windows. Dịch vụ Web có tên là “Live Desktop” được thiết kế trông giống như Windows desktop là cửa ngõ để kích hoạt các ứng dụng trực tuyến, chia sẻ thông tin.

Hiện tại, Live Mesh chỉ có hai chức năng chính là chia sẻ tập tin, thư mục giữa các máy tính và cho điều khiển máy tính từ xa (Remote Desktop) qua giao diện web (phải dùng IE) hay bằng một ứng dụng trong MOE. Ngoài ra MOE còn cài ứng dụng có tên “Live Mesh Notifier” để báo cho bạn biết những gì xảy ra trong Mesh của mình và tích hợp “Mesh Companion Bar” vào Windows Explorer (hmm, một cách làm rất điển hình kiểu Microsoft).

livemesh-folder.jpg

Ngoài ra, Live Mesh còn cho bạn một không gian lưu trữ chung 5GB mà bạn có thể truy cập từ bất kỳ đâu có Internet và vì nó được tích hợp vào Remote Desktop nên bạn sẽ có thể thao tác trên đó rất dễ dàng.

+ Công nghệ và Mục tiêu: Công nghệ lõi của Live Mesh là FeedSync trước kia có tên là Simple Sharing Extensions, một công nghệ riêng của Microsoft lấy ý tưởng từ việc đồng bộ hóa tin qua “feeds” để mở rộng cho việc đồng bộ hóa các tài liệu khác.

Mục tiêu lớn nhất của Microsoft là biến Live Mesh thành một nền tảng (platform) để xây dựng các ứng dụng kiểu “for Live Mesh”. Các ứng dụng này sẽ có khả năng hoạt động ngay cả khi không có kết nối Internet, khi “online” trở lại dữ liệu sẽ được đồng bộ bằng công nghệ P2P để tiết kiệm băng thông tối đa.

Chiến Lược ” Windows for Web”

Câu hỏi mà các nhà phân tích luôn đặt ra với Microsoft là họ sẽ làm thế nào để đưa các sản phẩm, dịch vụ của mình lên web mà không làm hại lãnh địa chính của mình trên desktop. Giờ đây chúng ta đã có thể thấy được câu trả lời của Microsoft qua Live Mesh.

Live Mesh bản chất là một cố gắng Windows hóa Web. Vấn đề lớn nhất với các ứng dụng desktop ngày này là chúng hoạt động như các ốc đảo trong khi web cho phép lưu trữ và sử dụng dữ liệu từ bất kỳ đâu trên trái đất. Web đã tạo nên một hệ thống hỗ tương (ecosystem) giữa các thiết bị điện tử, một ví dụ điển hình nhất là mối liên hệ giữa iPod và iTunes, cái nọ là động lực cho sự phát triển của cái kia với Internet là phương tiện đồng bộ hóa. Microsoft luôn gặp khó khăn khi phải hộ trợ việc đồng bộ hóa dù là đơn giản nhất. Nếu mọi thứ đều chạy trên Windows thì chẳng có vấn đề gì vì họ có thể kiểm soát được mọi chuyện ở đó, nhưng thời đại đã đổi thay khi ngày nay các thiết bị chủ yếu dùng Web để trao đổi và chia sẻ dữ liệu.

Web đã từng là một nơi dễ kiểm soát đối với Microsoft nhưng lại đang là mối đe dọa tiềm tàng lớn nhất với người khổng lồ trên đôi cánh Windows này. Web đang trở thành trung tâm của giải trí và làm việc khiến cho Windows ngày càng lạc hậu trước các ứng dụng web của Google và Yahoo. Câu trả lời có tính chiến lược nhất của Microsoft là phải tạo nên một “Windows for Web” và thúc đẩy việc tạo ra các ứng dụng mới trên nền tảng này. Các ứng dụng “for Mesh” sẽ gắn chặt với hệ điều hành và có thể hoạt động offline như các ứng dụng desktop khác trong khi vẫn có các ưu điểm của các ứng dụng web như có thể lưu trữ dữ liệu tập chung và truy cập dữ liệu từ bất kỳ đâu trên nhiều thiết bị khác nhau. Người dùng sẽ vẫn có cảm giác quen thuộc như khi dùng các ứng dụng desktop…

Windows desktop sẽ được thay thế bằng Live Desktop, “My Computer” nhường chỗ cho “My Mesh” nơi bạn có thể nhìn thấy tất cả các máy tính, thiết bị gắn vào Mesh (hiện tại thì bạn chỉ có thể đưa máy tính chạy Windows XP hay Vista vào Mesh thôi). Bạn có thể đưa các thư mục bạn muốn chia sẻ như “My Documents” hay “My Music” vào không gian của Mesh và Mesh sẽ đồng bộ hóa khi bạn có bất kỳ thay đổi gì trong các tài liệu, tập tin ở đó.

Tuy nhiên, điều cốt lõi để chiến lược này thành công và biến Mesh thành nền tảng Web “mặc định” thì cần nhiều ứng dụng phát triển trên đó. Microsoft sẽ cung cấp các API (kiểu REST) cho các nhà phát triển ứng dụng bằng Javascript hay Silverlight, ngoài ra các ứng dụng có thể trực tiếp “nói chuyện phải quấy” với Mesh qua FeedSync. Nhưng có lẽ các nhà phát triển sẽ phải chờ tới cuối năm nay mới có được các công cụ cần thiết để tạo những ứng dụng đầu tiên cho Mesh.

Vài Suy Nghĩ

Điều chúng ta có thể nhận thấy từ văn hóa của Microsoft là họ luôn sẵn sàng tạo ra những sản phẩm không xuất sắc lắm và không ngừng cải tiến nó cho đến khi hoàn chỉnh và họ cũng không bao giờ xa rời chiến lược chủ đạo “Windows là tất cả” của mình.

Web có thể là mối đe dọa lớn nhất với Microsoft nhưng nếu có chiến lược đúng đắn nó lại có thể biến Web thành cơ hội lớn nhất với họ. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu thế hệ tiếp theo của Word, Excel… sẽ là Word for Live Mesh, Excel for Live Mesh… (hay Office for Live Mesh), khi ấy kịch bản mà tôi trình bày trong phần giới thiệu ở trên sẽ không còn là giả định nữa. Và sẽ thật thú vị nếu lại được chứng kiến một thế hệ các phần mềm mới “for Live Mesh” xuất hiện tương tự các ứng dụng “for Windows” ngày nào.

Vấn đề lớn nhất là cộng đồng phát triển và khối doanh nghiệp sẽ phản ứng thế nào với nền tảng Live Mesh, liệu họ có muốn để Microsoft áp đặt các tiêu chuẩn của mình lên Web (nữa) hay không?

Theo http://www.web2vietnam.com

Phương pháp luyện trí não của OMIZUMI KAG

Lúc bé, chúng ta học nhiều về thường thức trong cuộc sống. Tất nhiên, những hiểu biết đó đã giúp ích cho ta trong đời sống hàng ngày. Tuy vậy, cũng có những lúc nó không những vô dụng mà còn làm hạn chế tư duy của chúng ta khi giải quyết một số vấn đề.

I. Tư duy sáng tạo là gì?
1. Gạt bỏ những hiều biết về kiến thức thông thường:

Trước hết, các bạn hãy trả lời câu hỏi sau đây, nhưng tối thiểu phải suy nghĩ 5 phút
Có một chai rượu nho, nút bần trên miệng chai không mở được. Vậy làm thế nào để uống được chai rượu nho này mà không cần đập vở chai, cũng không xoi qua lỗ nút chai

Bạn có trả lời câu hỏi trên một cách dễ dàng không?
Tất nhiên nhiều người sẽ trả lời đúng câu hỏi trên một cách dễ dàng. Những cũng có người phải chào thua. Câu trả lời thật đơn giản: Ấn nút bần cho lọt vào bên trong. Thế nhưng cũng có nhiều người không nghĩ ra, cứ nghĩ rằng muốn uống rượu thì pahỉ mở nút chai ra. Nếu nút chai không mở ra được thì sẽ không uống được rượu trong chai. Bản chất của câu hỏi trên chính là nhằm vào chỗ yếu trong suy nghĩ của con người, chỉ nghĩ theo sự hiểu biết thông thường của mình.

Lúc bé, chúng ta học nhiều về thường thức trong cuộc sống. Tất nhiên, những hiểu biết đó đã giúp ích cho ta trong đời sống hàng ngày. Tuy vậy, cũng có những lúc nó không những vô dụng mà còn làm hạn chế tư duy của chúng ta khi giải quyết một số vấn đề.

Thực tế cho thấy, nhiều vấn đề đơn giản đến nỗi trẻ con cũng làm được mà người lớn lại cảm thấy vô cùng khó khăn.

2. Gạt bỏ những kinh nghiệm trong quá khứ.
Nhà ảo thuật muốn lấy một vật gì đó từ trong túi áo ra, thường phải làm ngược lại cách nghĩ thông thường của khán giả. Thông thường, ai cúng nghĩ rằng, muốn lấy một vật gì đó từ trong túi áo thì phải thò tay vào túi áo. Giả sử nhà ảo thuật thò tay vào túi áo, lợi dụng khi lấy khăn tay luôn tiện lấy cả tờ giấy bạc ra thì rất dễ bị khán giả phát hiện

Cũng một động tác nhưng nếu ta làm ngược lại, thay vì lấy tờ giấy bạc ra lúc thò tay vào túi lấy khăn tay, nay nhà ảo thuật thò tay vào lấy chiếc khăn nhưng chỉ lấy chiếc khăn thôi, không có tờ giấy bạc nào cả. Khán giả cũng trố mắt để theo dõi chiếc khăn lấy từ túi ra có kèm theo vật gì không ? Không có. Khán giả có thể yên trí được rồi ! Thế nhưng lúc bấy giờ cũng chính là lúc nhà ảo thuật trôr tài của mình, anh ta đường hoàng thò tay vào túi để bỏ chiếc khăn vào và….thật nhanh, tờ giấy bạc được lấy ra trong lúc bỏ chiếc khăn vào, chứ không phải lúc lấy chiếc khăn ra. Từ đó ta thấy lường gạt hay ảo thuật đều làm ngược lại với những suy nghị thông thường của con nguời. Đó cũng là chỗ yếu tâm lý của chúng ta.

Đầu óc của con người vì sao lại bị ràng buộc bởi những ‘hiểu biết về kiến thức thông thường’ hoặc “kinh nghiệm của qúa khứ” ?. Tôi cho rằng chẳng qua là bộ não của chúng ta cấu tạo quá hoàn chỉnh mà thôi.
Suy nghĩ cũng làm cho con người mệt mỏi, nên cần có thời gian thích đáng để nghỉ ngơi. Nhất là gặp những trường hợp nhiều lần được giải quyết một cách thuận lợi bởi những kinh nghiệm sẵn có, lúc đó đầu óc của chúng ta sẽ chọn các ‘tiết kiệm tư duy” để ứng phó với những vấn đề đó.

Điều đó làm cho đầu óc của chúng ta trở nên mất linh hoạt. Đó chính là nguyên nhân làm hạn chế tính sáng tạo trong tư duy của con người.
Để tránh sự xơ cứng của bộ não, ta nên tập thành thói quen suy xét một vật hoặc một vấn đề từ nhiều khía cạnh.
Chịu khó tư duy, chịu khó động não, chắc chắn các bạn sữ có những cách giải quyết vấn đề hoặc những phát hiện bất ngờ.

3. Tạo điều kiện phát triển khả năng sáng tạo
Giữ gìn truyền thống là điều không ai chối cãi. Những trong thời đại tên lửa hiên nay, bất cứ ai cũng cần có những sáng tạo trong tư duy.
Nhưng thực tế thì hầu hết những người thông thường không có sự cố gắng trong việc rèn luyện tính sáng tạo tư duy của mình. Bởi lẽ họ cho rằng khả năng sáng tạo là bẩm sinh. Không thể rèn luyện hoặc nhờ sự cố gắng mà có.

Thực tế dù ở gia đình, nhà trường hoặc nơi làm việc, đều có rất nhiều nguyên nhân làm hạn chế tính sáng tạo. Nhất là tại các cơ quan làm việc. Đối với những suy nghĩ táo bạo của tuổi trẻ thường bị phê bình là: “Quá non nớt! Quá ấu trĩ!”

Ở một xí nghiệp nào đó khi có mặt giám đốc, các nhân viên vẫn cười nói bình thường, đấy là bầu không khí làm việc lý tưởng. Nhưng ngược lại tại một số nơi khi trưởng phòng xuất hiện các tổ trưởng lập tức câm miệng như hến, nhân viên bỗng nhiên trở nên hiền như con mèo con mới mang về. Ở những công ty đó, các nhân viên trẻ làm sao có khả năng phát huy tính sáng tạo trong công tác của họ. Khả năng phát triển của công ty sẽ bị hàn chế.

Giới hạn con người trong khuôn khổ lấy những hiểu biết về kiến thức thông thường, những tậ tục, những truyền thống, những ký ức để ràng buộc con người sẽ không thể có sáng tạo trong tư duy và công tác.

II. Nâng cao khả năng sáng tạo:
Để nâng cao khả năng sáng tạo, cần có phương pháp rèn luyện. Đó là:

1. Phương pháp đặt vấn đề:
Trước tiên, các bạn liệt kê toàn bộ những chi tiết có vấn đề thành một bảng kê. Sau đó lần lượt suy nghĩ từng vấn đề. Làm như vậy chúng ta sẽ tránh được kiểu xem xét sự vật phiến diện hoặc bỏ sót cá chi tiết quan trọng. Tuy vậy, cũng không nên quá lệ thuộc vào phương pháp nạy vì quá lệ thuộc vào nó sẽ làm hạn chế tính sáng tạo.

2. Phương pháp liên tưởng đôi
Mục đích rèn luyện của phương pháp này cũng giống như phương pháp đặt vấn đề, giúp ta vượt qua các liên tưởng thông thường
Ví dụ: Cần sáng chế một sản phẩm mới về âm thanh nổi. Trước tiên, người ta liên tưởng tới một sản phẩm hoàn toàn không liên quan dến nó – máy bay. Sau đó ta xem xét đặc tính, công dụng, trang bị của máy bay.

Căn cứ vào những yếu tố đó ta lại lần lượt xét các yếu tố đó với sản phẩm về âm thanh nổi.
Phương pháp này không những giúp ta nghiên cứu sáng chế sản phẩm mới mà còn rèn luyện tính sáng tạo trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

3. Phương pháp phân tích hình thái:
Ví dụ: Muón làm một cái ly để đông dung dịch chúng ta cần xem xét hình dáng, kích thước, nguyên liệu của ly. Người ta lập một biểu đồ khối lập phương để lựa chọn điều kiện tối ưu. Có 48 trường hợp để lựa chọn, giúp chúng ta có những dữ liệu để sáng chế một sản phẩm mới đạt tiêu chuẩn cao.

Ba phương pháp trên nhằm hạn chế sự lão hoá của bộ não nhưng đối với việc rèn luyện tư duy lại không có hiệu quả bao nhiêu.

Theo kinh nghiệm những người có sức sáng tạo phong phú thường là những người rất thích thú với các trò chơi về bộ não như: câu đố, tiểu thuyết suy luận, ảo thuật, truyện vui, tạp kỹ…. Trong đó câu đố là một hình thức không thể thiếu được để rèn luyện trí óc của chúng ta. Nó bao gồm những tài liệu rèn luyện khả năng trực giác, khả năng quan sát, khả năng phân tích, khả năng suy luận, khả năng bền bỉ, khả năng sáng tạo của con người.

http://cafesangtao.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=284&Itemid=23

Tại sao bạn phải luôn đứng đầu trong kết quả tìm kiếm của Google?

Nhiều người nói rằng bạn cần phải ở trên trang đầu tiên trong những kết quả của google nếu bạn muốn nhận được những cái click. Nhưng điều mà tôi sắp nói sẽ làm bạn thất vọng vì thực tế chỉ đơn thuần trang web của bạn nằm ở trang đầu tiên là không đủ. Vì khi bạn ở vị trí thấp nhất trong trang đầu tiên thì cơ hội bạn nhận được click chỉ là 1% trong số toàn bộ những click của những người tìm kiếm bằng từ khóa đó.

Có thể nói đây đang là một chủ đề rất nóng nhưng có một điều lạ là chưa có một cuộc nghiên cứu lớn nào về nó. Đa số những nghiên cứu đáng tin cậy cho đến lúc này điều đến từ trường Đại học Cornell. Họ đã sử dụng công nghệ eye tracking để tìm hiểu số phần trăm những người sử dụng click vào toàn bộ 10 kết quả xuất hiện trên trang đầu tiên của Google trên những đề tài nhất định. Và kết quả của cuộc nghiên cứu thực sự làm tôi không khỏi ngạc nhiên mà bạn có thể thấy trong hình dưới đây ( .xem tiếp.)