Làm thế nào để bạn trở thành một Freelancer thành công

Làm thế nào để bạn trở thành một Freelancer thành công? Sau đây là một số phẩm chất mà một Freelancer cần có:
• Kinh nghiệm(Experience): Tất nhiên rồi, bạn cần phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực mà ban muốn tham gia. Đây là công việc bạn thực sự bắt tay vào làm do vậy khách hàng sẽ dễ dàng nhận ra bạn là người có kỹ năng hay không. Bạn tỏ ra là người có kinh nghiệm, bạn sẽ dễ thuận lợi khi tìm đối tác.
• Tin cậy(Reliability): Trong bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào, sự hài lòng của khách hàng sẽ mang lại lợi nhuận to lớn cho bạn. Điều này bao gồm sự đúng hẹn của bạn, và những giao tiếp của bạn với khách hàng. Hãy giữ liên lạc và cho họ thấy bạn đang làm việc cho họ.
• Duy trì sự tập trung(Staying focused): Làm việc tự do bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào bạn muốn đó là một thách thức rất lớn. Bạn phải biết tổ chức và kỷ luật nghiêm ngặt đối với bản thân. Điều đó có nghĩa là bạn phải biết tự quản lý chính bạn. làm được điều này bước đầu bạn đã thành công trên con đường trở thành một freelancer.
• Khả năng tìm hiểu nhanh (Ability learning fast): Bạn được thuê làm một vài việc gì đó cho một ông chủ mà không có các quyền lợi như là một nhân viên, tất cả đó là outsourcing. Bạn cần phải nhanh chóng hiểu được yêu cầu của khách hàng và nhanh chóng đáp ừng mong đợi của khách hàng. Vì vậy kỹ năng này không thể thiểu đối với một Freelancer.
• Năng động (Flexibility): Bạn luôn phải thay đổi theo ý của khách hàng. Khách hàng trả tiền cho bạn để làm việc này. Nếu không bạn hãy yêu cầu họ.
• Tổ chức (Orgnization): Freelancer luôn phải biết tổ chức công việc hợp lý, vì một lúc họ có thể phải quan tâm đến nhiều khách hàng. Vì vậy để làm tốt họ phải tổ chức được thật tốt công việc.
• Tự nỗ lực (Self movitation): Luôn nỗ lực không ngừng, tự nâng cao kinh nghiệm cũng như kỹ năng về lĩnh vực mà Freelancer tham gia.
• Kiên trì và bền bỉ(Persistence): Bạn luôn phải kiên trì bền bỉ, luôn luôn nỗ lực làm khách hàng hài lòng.
• Chuyên nghiệp: (professionalism)
• Có thể nói “Không” (Being able say “No”) và cũng chấp nhận không.
• Tin tưởng(Confident): Những thành công của freelancer là sự tự tin của bản thân, đáp ững được các yêu cầu khó khăn nhất của khách hàng.

Mike Vu.

7 Bước cơ bản trong hoạt động bán hàng

Đây là bẩy bước giúp bạn trở thành người bán hàng thành công

Để bán hàng được cho khách hàng chúng ta phải hiểu về khách hàng một cách sâu sắc. để làm được điều đó thì đây là một trong bẩy bước giúp bạn hiểu được khách hàng của mình. (Bán hàng là một nghệ thuật, người bán hàng chúng ta là một nghệ sĩ )
k
Chi tiết

Slogan of life

1. WHEN THINGS GO BAD, always remember: It could be worse.
2. NEVER, NEVER GIVE UP. Keep working on your speech and your life.
3. NEVER LOSE YOUR SENSE OF HUMOR. Laugh at yourself, laugh with others.
4. STEM DEPRESSION by thinking of, reaching out to and helping others.
5. DO UNTO OTHERS as you would have them do unto you.
6. PRAY, not for God to cure you but to help you help yourself.

Words of Wisdom from Kirk Douglas.

Kirk Douglas says having a stroke made him appreciate life more. “I’m still alive,” the 85-year-old actor said. “The sky is bluer, the trees are greener. People talk of heaven, but maybe this is heaven and we don’t know it.”

Kirk Douglas constructed his new outlook and survival upon these 4 great human values:

1. The love of his wife, Anne, and his four sons.
2. His intuitive conviction that laughter truly is the best medecine.
3. His immersion in the Bible study.
4. The gratification of reaching out and helping others.

Chien luoc cua nha quan ly the nao de co hieu qua

ĐỊNH HƯỚNG TẬP TRUNG

TƯƠNG LAI CỦA CTY CÁC BẠN PHỤ THUỘC VÀO ĐIỀU NÀY

Câu hỏi “một nhà quản trị là người thế nào?”

GIỚI THIỆU

Mặt trời là một nguồn năng lượng khổng lồ. Mỗi một giờ, mặt trời đổ xuống trái đất này hàng tỷ tỷ kilowatt năng lượng. Với một cái nón và một vài vật dụng che chắn, bạn có thể tắm trong nắng mặt trời nhiều giờ liền mà không hề phải e ngại bệnh tật.

Tia laser chỉ là nguồn năng lượng nhỏ bé, chỉ tiêu thụ có vài watt năng lượng nhưng với sự tập trung có định hướng, tia laser có thể xuyên thủng một hạt kim cương hay đốt bỏ một mầm mống ung thư trong cơ thể con người.

Khi bạn định hướng tương lai cho một công ty, bạn cũng đang tạo thành một tác động tương tự như tia laser. Bạn đang tạo thành một khả năng đầy sức mạnh để chi phối một thị trường. Đó là khả năng của sự định hướng.

Khi một công ty mất đi khả năng định hướng tập trung, nó đánh mấ đi sức mạnh đáng giá này. Công ty đó trở thành một mặt trời đang chia nhỏ toàn bộ năng lượng của nó ra cho quá nhiều sản phẩm và thị trường khác nhau.

Trong vài thập niên gần đây, vô số sản phẩm và dịch vụ được tung ra trên các thị trường. Sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật và khả năng sản xuất đã đem lại cho người tiêu dùng hàng đống các loại sản phẩm và tất cả gần như luôn sẵn sàng ở khắp mọi nơi. Và để đối phó với việc này, các công ty đã mở rộng các giòng sản phẩm của mình đến hết mức có thể.

Nhưng các công ty không thể cứ mở rộng mãi các giòng sản phẩm của mình được. Họ đã đạt đến chỗ không thể không nghĩ lại. Họ lúng túng trước việc phải quản lý một bộ sưu tập các sản phẩm và dịch vụ quá to lớn và phức tạp, hiệu lực mất dần cùng lúc với những lợi thế cạnh tranh.

Các công ty trở thành những ông mặt trời khổng lồ và sức nóng của những mặt trời này cũng giảm thiểu tương ứng với sự bành trướng của chúng. Trong số những mặt trời đó có cả những tên tuổi như General Motors, IBM, Sears, Roebuck…

Mặt trời không thể định hướng tập trung cho nguồn năng lượng của nó nhưng các công ty thì hoàn toàn có thể! Và đây chính là thông điệp của cuốn sách này. Đã đến lúc để phát triển sức mạnh thật của một công ty bằng cách thu hẹp và tập trung sự định hướng lại.

May mắn thay, một số tổng giám đốc điều hành đã nhận được thông điệp này và ngay cả đến người khổng lồ General Electric cũng đã phải ngừng việc mở rộng của mình lại. Họ đã phải bán đi một số công cuộc kinh doanh chính của mình như máy tính, thiết bị truyền hình, v.v…

Những gì bạn đang nhìn thấy chỉ là những phản ứng buộc phải có trước sự mở rộng quá đà. Thay vì tiếp tục mở rộng, các công ty đang đi theo hướng ngược lại. Họ quay trở lại với những gì là căn bản của mình. Họ đã học được bài học của tia laser – định hướng tập trung như thế nào.

Và các bạn cũng không thể khác. Tương lai của công ty các bạn phụ thuộc vào điều này.

1- SỰ MẤT ĐỊNH HƯỚNG TẬP TRUNG CỦA CÁC CÔNG TY MỸ

Các công ty nói chung đều chịu chung một tác động như nhau. Phát triển.

Các công ty đều buộc phải tăng trưởng mãi lực và lợi nhuận hàng năm cho dù họ đang phải hoạt động trong những thị trường không còn có khả năng phát triển. Để đáp ứng cho yêu cầu bắt buộc này, các công ty cũng buộc phải mở rộng các cung ứng của mình. Thâm nhập vào các thị trường mới. Tiếp nhận thêm các công ty và sản phẩm khác nữa hay chấp nhận liên doanh.

Cho dù bạn có gọi quá trình mở rộng này là “mở rộng giòng sản phẩm,” “đa dạng hóa” hay “cộng lực” thì cũng chỉ là một quá trình, sự thúc ép phải lớn mạnh là nguyên nhân đã làm cho các công ty mất sự định hướng tập trung. Và đó cũng chính là lý do khiến cho các công ty như IBM với tổng doanh thu 63 tỷ USD / năm vẫn phải chịu lỗ 8 tỷ và General Motors với 133 tỷ vẫn phải chịu lỗ 23 tỷ.

Cho dù yêu cầu phải lớn mạnh lên là tất yếu nhưng việc theo đuổi sự lớn mạnh chỉ để được xem là lớn mạnh rõ ràng là một sai lầm chiến lược nghiêm trọng. Và đương nhiên phải có những tổng giám đốc điều hành bị đưa lên giàn giáo để trả giá cho những sai lầm chiến lược do chính họ tạo nên này. Trong số này có những cái tên như: James Robinson ở American Express, John Sculley ở Apple, Barry Gibbons ở Burger King, Rod Canion ở Compaq, Robert Stempel ở General Motors, John Akers ở IBM… và còn nhiều nữa.

Không chỉ vì theo đuổi sự phát triển mà các công ty trở nên mất định hướng tập trung. Tự thân việc mất sự định hướng tập trung là một hiện tượng tự nhiên hình thành không dính gì đến các nỗ lực có định ý của một công ty.

Một công ty thành công thường khởi đầu với sự tập trung cao vào một vài sản phẩm hay thị trường nhưng qua thời gian họ mất đi sự tập trung này khi bắt đầu cung ứng quá nhiều các loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau ở nhiều mức giá cho những thị trường đủ loại.

Bạn chắc có thể đang làm việc cho một công ty tương tự. Mọi việc phát triển thuận lợi trong thời gian đầu và những sản phẩm hay dịch vụ đầu tiên đã là những thắng lợi lớn. Công ty bắt đầu có nhứng dự kiến lớn lao cùng với giá cổ phiếu cứ vọt nhanh như hỏa tiễn. Nhưng thành công cũng cùng lúc mang lại những cơ hội mới và khả năng mở rộng ra nhiều hướng mới. Mọi người đều hưng phấn với ý nghĩ “rồi đây ta sẽ cai trị cả thế giới.”

Đó là một kịch bản đã từng xẩy ra với General Motors trong thập niên 60, với Sears trong thập niên 70, với IBM trong thập niên 80 và với Microsoft trong thập niên 90.

Sau một thời gian, mọi việc bắt đầu rối rắm. Điều tưởng chứng là một thế giới những cơ hội bỗng biến thành một vũ trụ nhứng vấn đề! Những mục tiêu không đạt. Mãi lực đứng chựng. Lợi nhuận tuột dốc và uy tín thất thường.

…..

(Sưu tầm)

Mong sự đóng góp của các bạn.

 

ESOP – cổ phần ưu đãi cho nhân viên

Trong cuộc cạnh tranh về khả năng trả lương với doanh nghiệp nước ngoài, ESOP được xem là giải pháp hiệu quả trong việc thu hút nhân tài của doanh nghiệp Việt.

Phát hành cổ phần ưu đãi cho nhân viên (ESOP – employee stock options) là hình thức được thực hiện rộng rãi trên thế giới. ESOP là công cụ hiệu quả nhằm thúc đẩy năng lực làm việc và gắn chặt quyền lợi của nhân viên với sự tăng trưởng của công ty, thu hút và giữ chân nhân tài.

Vũ khí lợi hại để giành nhân tài

Có nhiều hình thức thực hiện ESOP khác nhau nhưng nguyên tắc chính vẫn là cho phép những nhân viên ưu tú được mua một lượng cổ phiếu cố định của công ty trong một khoảng thời gian nào đó với giá ưu đãi.

Giả sử cổ phiếu của công ty Globel Enterprise (GE) đang giao dịch ở mức 10 USD/ cổ phiếu vào ngày hôm nay. Kế hoạch ESOP của GE được thực hiện bằng hình thức cho phép các nhà quản lý cấp cao mua 100 cổ phiếu của công ty với giá 12 USD (cao hơn 2 USD so với giá thị trường) trong thời hạn từ giữa tháng 1-2008 đến tháng 1-2010.

Trong thời hạn đó, nếu giá cổ phiếu trên thị trường chỉ tằng rất ít, chẳng hạn 11 USD/cổ phiếu vào tháng 1-2010, nhà quản lý có thể không tham gia mua bán cổ phiếu. Nhưng cũng tại thời điểm đó, nếu giá cổ phiếu tăng đến 15 USD, anh ta có thế mua 100 cổ phiếu với mức giá ưu đãi đã được ấn định là 12 USD và bán ra theo giá thị trường 15 USD. Như vậy anh ta sẽ lời 300 USD.

ESOP sẽ kích thích nhân viên làm việc tốt hơn, quan tâm đến lợi nhuận lâu dài của công ty hơn bởi họ cũng là một cổ đông. Ngược lại, không có ESOP, các nhà quản lý sẽ ít quan tâm đến sự tăng giảm giá cổ phiếu của công ty và chỉ tập trung vào hoạt động kinh doanh trước mắt chứ không phải là mục tiêu tăng trưởng lâu dài.

Vì thế, ESOP là công cụ hữu hiệu cải thiện cơ chế quản trị của công ty. Nhiều khảo sát trên thế giới cho thấy, những công ty có kế hoạch ESOP thì có hoạt động cổ phiếu hiệu quả hơn công ty không có ESOP.

ESOP: Con dao hai lưỡi

Tại các nước phát triển, ESOP chủ yếu được áp dụng đối với các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, ESOP đặc biệt hấp dẫn đối với doanh nghiệp nhỏ hoặc mới thành lập, tài chính không đủ mạnh để cạnh tranh với các công ty nước ngoài trong việc trả lương cho nhân viên.

Song, ESOP cũng có những mặt trái của của nó. Thứ nhất, việc phát hành quá nhiều cổ phiếu cho người nhà, sẽ chiếm mất phần trăm của các cổ đông bên ngoài, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn huy động thêm vốn. Vì vậy, các công ty trên thế giới hiếm khi phát hành ESOP vượt quá 5% tổng cổ phiếu.

Thứ hai, có thể các nhà quản lý được hưởng ESOP sẽ dùng những thủ thuật đẩy giá cổ phiếu của công ty lên để bán ra kiếm lợi. Việc tăng giá ảo này sẻ làm giảm uy tín của cổ phiếu và gây phương hại cho doanh nghiệp trong tương lai.

Trong năm 2006, rất nhiều các doanh nghiệp lớn của Mỹ, đặc biệt là trong lĩnh vực ICT, đã đối mặt với tình hình cổ phiếu không minh bạch do sự gian lận của các nhà quản lý doanh nghiệp. Do đó, phần lớn kế hoạch ESOP thường được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu (trước khi ESOP bắt đầu có hiệu lực) tối thiểu là một năm và giai đoạn ESOP có hiệu lực từ 2-3 năm, như vậy sẽ hạn chế khuynh hướng kiếm lời ngắn hạn của các nhà quản lý.

Tuy không dể thực hiện, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình tài chính doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều bất cập, nhưng ESOP vẫn được xem là một công cụ thu hút và giữ chân nhân tài hiệu quả cho doanh nghiệp Việt trước sự tranh giành chất xám quyết liệt với doanh nghiệp nước ngoài hậu WTO.

Theo (Bao dau tu)

Slogan – tinh thần của nhãn hiệu

Slogan – tinh thần của nhãn hiệu
slogan42.jpg

Slogan là phần cô đọng nhất của thương hiệu được gửi đến người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng hình dung thương hiệu và sản phẩm nhanh chóng hơn, dễ dàng hơn. Đơn cử như “Coop-Mart – Bạn của mọi nhà” là biết ngay siêu thị này hướng đến tinh thần làm bạn đối với mọi gia đình.

Thông thường, nhà tiếp thị chuyên nghiệp không thực hiện việc viết slogan cho nhãn hiệu mà chỉ định công ty quảng cáo chuyên nghiệp thực hiện. Công ty quảng cáo sẽ có đội phụ trách dự án này bao gồm bộ phận đặc trách khách hàng (Account Services), Giám đốc sáng tạo (Creative Director) và Người viết lời (Copywriter) đảm nhận. Đội ngũ này sẽ thu thập yêu cầu từ khách hàng, viết lại định hướng sáng tác và trao đổi để khách hàng thống nhất với định hướng này.

Trong quá trình viết tóm lược, giám đốc sáng tạo có vai trò rất quan trọng, tạo đường hướng sáng tạo rõ ràng cho thương hiệu. Sau khi định hướng được thống nhất, đội ngũ sáng tạo bắt tay vào việc. Bộ phận đặc trách khách hàng sẽ cung cấp tất cả các thông tin, dữ liệu nghiên cứu cho đội sáng tác. Bản thân đội sáng tác phải “nhảy vào hành động” với thực tế để tìm hiểu rõ cặn kẽ về sản phẩm dịch vụ, người tiêu dùng, về đối thủ cạnh tranh, xu hướng thị trường,… Tất cả những thông tin này được gọi là “những khám phá” – thành phần chính để giám đốc sáng tạo “chế tác”.

Công việc của giám đốc sáng tạo, chính là vận dụng tất cả năng lực và kinh nghiệm sáng tác của mình, hình dung ra tối thiểu là 3 “đường hướng” khác nhau và ngồi lại với copywriter để viết lên slogan. Thông thường, giám đốc sáng tạo sẽ dựa trên 2 thành phần chính sau.

Giá trị nhãn hiệu: là tất cả những thuộc tính, giá trị định tính và tinh thần mà nhãn hiệu muốn truyền tải. Chẳng hạn bia Tiger cung cấp cho khách sành bia hương vị đậm đà, sản xuất từ lúa mạch tinh khiết, làm cho đàn ông sảng khoái, trò chuyện thêm rôm rả, mang phong cách đẳng cấp… Trong đó, tính “sở hữu chính” và tính độc đáo, duy nhất là những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị riêng nhất của thương hiệu.

Nhu cầu của khách hàng: Từ những nghiên cứu chuyên nghiệp, khảo sát thực tế, tổng kết từ các chuyên gia trong lĩnh vực mà sản phẩm có liên quan, nhà tiếp thị cần phải tìm ra nhu cầu bên trong của các khách hàng. Tiếp theo, họ cần lựa chọn nhu cầu quan trọng và tiềm năng nhất để đáp ứng. Đối với khách hàng sành bia, nhu cầu của khách là muốn chia sẻ cùng bằng hữu, thể hiện bản lĩnh đàn ông, khẳng định phong cách, chứng tỏ người thành đạt, khẳng định tính cấp tiến của người châu Á muốn vươn lên tầm thế giới… Từ đó cái gọi là “nhu cầu khẳng định bản lĩnh của đàn ông Á châu” được xem là tiềm năng để xây dựng slogan

Trên cơ sở đó, giám đốc Sáng tạo sẽ triển khai, phát triển thành tầm nhìn thương hiệu và trên tầm nhìn này sẽ có được thông điệp truyền thông, đấy là slogan của thương hiệu. Như vậy, định vị của thương hiệu Tiger Beer được xác định là “Asian Male Spirit” (Khí khái đàn ông Á Châu). Có như vậy mới tạo sự khác biệt giữa Tiger với các “đại gia” bia khác. Và đó chính là câu slogan “Tiger beer – Bản lĩnh đàn ông”.

Cách viết Slogan

Đối với các Giám đốc Sáng tạo và người viết lời, họ thích sáng tác các slogan gần gũi đơn giản vì dễ nhớ, dễ làm marketing, và tạo ấn tượng mạnh lâu dài.

Đôi khi bạn cần thể hiện một trạng thái tinh thần hay cảm thán về điều gì đó, người viết slogan bắt nhịp ngay và đấy chính là câu thể hiện rất tốt cho định vị thương hiệu. Ví dụ “No problem!” (Chuyện nhỏ!) diễn tả tinh thần rất thoải mái, xem nhẹ mọi việc, không có gì là không giải quyết được… thể hiện rất đúng phong cách “dân chơi không sợ mưa rơi” của giới trẻ hiện đại trong phim quảng cáo kẹo trái cây StarBust. Hoặc Electrolux với “Hơn 20 năm vẫn chạy tốt” nêu bật độ bền đến kinh ngạc một cách hài hước.

Người viết slogan kinh nghiệm thường đặt mình trong bối cảnh là người tiêu dùng đang sử dụng sản phẩm với những ưu điểm nổi trội, rồi thốt lên: “Quá tiện lợi!”. Và đó là cách mà G7Mart phát kiến cho chuỗi cửa hàng tiện lợi G7Mart đang xuất hiện khắp nơi. Slogan này của G7Mart khẳng định chuỗi cửa hàng tạp hoá tiện lợi cho người tiêu dùng khi cần đến một sản phẩm thiết yếu nhỏ nhặt nhất mỗi ngày. Khi cần là nhớ ngay đến G7Mart – Quá tiện lợi!

Tương tự là slogan “Have a break, have a kitkat” của kẹo chocolate KitKat (Nestlé). Câu slogan kêu gọi mọi người “bất cứ lúc nào bạn nghỉ giải lao, phải có KitKat” làm người tiêu dùng thuộc lòng và thực hiện ngay, giúp Nestle xây dựng thành công thương hiệu KitKat. Hay như “Smooth as silk” (Bay êm như lụa) của Singapore Airlines làm cho hãng hàng không này có cái tên thêm rất độc đáo là SilkyAir – Hàng không tơ lụa.

Người tiêu dùng thường nhớ những câu cửa miệng hài hước, gây sốc mạnh lại gắn liền với các thương hiệu như “Không nên hoãn cái sự sung sướng đó lại” từ Vinacafe, “Lãng mạn lắm đó”, “Rất hợp với dáng em” của Sunsilk. Không những dễ nhớ mà trở thành câu trò chuyện tếu khi bạn bè bắt chước.

Một dạng khác của slogan là khai thác các câu danh ngôn, chân lý rất phổ biến của các tác giả nổi tiếng khác như hãng kim cương nổi tiếng De Beers với “Love is forever” (Tình yêu là vĩnh cửu). Họ muốn ám chỉ kim cương của De-Beer cũng sẽ tồn tại vĩnh cửu giống như tình yêu, vì kim cương là biểu tượng của tình yêu. Tương tự là “Nothing Impossible” (Không có gì là không thể) của hãng giầy Adidas.

Vấn đề chuyển ngữ trong slogan quốc tế

Các thương hiệu quốc tế khi vào thị trường Việt Nam thường đã có sẵn tất cả tư liệu quảng bá, truyền thông. Do vậy công ty quảng cáo chỉ có nhiệm vụ chuyển ngữ sau khi hiểu rõ “cấu trúc thương hiệu” và dùng ngôn ngữ địa phương để truyền tải thông điệp này. Nhưng chuyển ngữ không đơn thuần là dịch thuật mà phải truyền tải đúng tinh thần của slogan.

Nếu dịch slogan của máy ảnh Konica “Nothing escape” là “Không gì thoát khỏi máy ảnh Konica” thì sẽ rất “phô”, mà phải chuyển thành “Konica – Giữ lại tất cả”. Còn trên hết, Heineken vẫn là thương hiệu ấn tượng nhất với câu “Chỉ có thể là Heineken” chuyển ngữ thành công từ nguyên tác “It could only be Heineken” bất hủ.

Ngoài ra, một số slogan không thể chuyển ngữ được đành phải để nguyên tác tiếng Anh hoặc nhà tiếp thị không muốn phức tạp hoá vấn đề ngôn từ nên giữ nguyên slogan gốc như “Just Do It” của Nike và “Nothing Impossible” của Adidas.

Phát triển slogan của một thương hiệu không dễ. Nó đòi hỏi phải hiểu rõ cặn kẽ sản phẩm với các lợi thế khác biệt cũng như người tiêu dùng thực sự mong muốn gì ở sản phẩm đấy, đối thủ trên thương trường đang nhắm đến yếu tố, phân khúc nào, có đủ ngân sách để đưa thông điệp slogan đến liên tục đến nỗi chỉ cần nghe là thấy ngay thương hiệu hay không .

( Theo Doanh nghiệp & Thương hiệu )

Giá trị của slogan

Giá trị của slogan
slogan23.jpg

Ông Martin Roll, Tổng giám đốc Công ty VentureRepublic, một công ty Singapore chuyên về tư vấn thương hiệu, thì bản thân slogan không định hướng hay cho rằng tạo tăng trưởng trực tiếp cho doanh nghiệp mà nó đơn thuần chỉ là điểm cuối cùng của công tác marketing.

“Khi doanh nghiệp quyết định chiến lược marketing của mình, họ sẽ sử dụng các thông tin quảng cáo và marketing để thực hiện chiến lược đó, và slogan là một trong những cách để thực hiện chiến lược này”, ông Martin Roll nói.

Phần lớn các chuyên viên marketing đồng ý rằng slogan mang định hướng hay chỉ dấu cho khách hàng nhận biết công ty đang kinh doanh sản phẩm gì. Quan trọng hơn, nó thể hiện phương châm kinh doanh của công ty hoặc mục tiêu của sản phẩm, dịch vụ mà công ty đưa ra trên thị trường. Ví như với slogan “Life’s good” (Cuộc sống tốt đẹp) của hãng sản xuất đồ điện tử, điện lạnh gia dụng LG (Hàn Quốc), theo ông Đặng Ngọc Long, Trưởng phòng quảng cáo Công ty LG Electronics Việt Nam thì nó có ý nghĩa chỉ dấu rằng LG kinh doanh các sản phẩm trang bị cho cuộc sống gia đình, hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn.

Việc xây dựng slogan do đó, có muôn vàn cách thức khác nhau phù hợp để xây dựng nên một slogan. Ông Sean Halliday, Tổng giám đốc Furama Resort cho rằng, slogan phải chứng tỏ dịch vụ của một công ty có nhiều giá trị hoặc giá trị của họ là khác biệt. “Ngành sản xuất thường phải chứng tỏ sản phẩm của họ hội đủ những tiêu chuẩn cần thiết của một ngành hàng và có nhiều lợi ích hơn so với các thương hiệu khác”, ông Halliday nói.

Để xây dựng slogan, trước hết nhà sản xuất phải có định hướng và thay đổi theo “khẩu vị” của khách hàng, tìm hiểu xem họ đang quan tâm đến cái gì. “Trước đây người tiêu dùng Việt Nam chỉ có nhu cầu “ăn chắc, mặc bền” nhưng nay là “ngon và đẹp”. Từ đó nhà sản xuất mới xác định được mục tiêu mà loại sản phẩm cần nhắm tới và slogan sẽ đảm nhiệm vai trò chuyển tải ý định đó tới người tiêu dùng”, ông Long giải thích.

Slogan “Cửa sổ nhìn ra thế giới” của Công ty Cửa sổ nhựa châu Âu (Eurowindow) đã gợi mở cho khách hàng liên tưởng ngay đến sản phẩm cửa sổ của hãng khi có nhu cầu sử dụng. Ông Nguyễn Cảnh Hồng, Tổng giám đốc Eurowindow, nói: “Điều quan trọng là phải xây dựng, duy trì và quảng bá slogan và ngay chính bản thân slogan cũng là một tài sản vô hình”.

Ông Đặng Ngọc Long cũng cho rằng có những doanh nghiệp nhỏ sáng tạo ra slogan ấn tượng của họ nhưng slogan này có “sống” được hay không lại phụ thuộc vào việc duy trì, khuyếch trương nó và đương nhiên chất lượng sản phẩm phải hỗ trợ cho slogan đó. Các hoạt động marketing, hoạt động xã hội đủ mạnh và hiệu quả sẽ hỗ trợ cho “tuổi thọ” của slogan.

Ông Sean Halliday cho rằng một slogan thành công phải mang trong mình thông điệp ấn tượng, khơi gợi được trí tưởng tượng, những ấn tượng đẹp về thương thiệu, và truyền tải một cách hiệu quả chiến lược kinh doanh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp đến khách hàng. Còn ông Martin Roll nhấn mạnh rằng một slogan hiệu quả không chỉ phản ánh bản sắc thương hiệu sản phẩm cụ thể nào đó đối với người tiêu dùng mà còn là công cụ để phân biệt nhãn hiệu trên thị trường bằng việc tạo ra một vị trí độc tôn.

“Để có một slogan tốt, có khả năng hỗ trợ đắc lực cho thương hiệu công ty và sản phẩm, bước căn bản là hiểu việc kinh doanh, các điều kiện thị trường và chiến lược của công ty đó. Việc này đòi hỏi một quá trình toàn diện và có những phân tích chi tiết bản sắc cốt lõi của nhãn hiệu, cá tính và chiến lược nhãn hiệu đó”. Ông Martin Roll, VentureRepublic

Một yếu tố quan trọng khi vận dụng slogan trong các chiến dịch marketing, theo các chuyên viên nghiên cứu và phát triển thương hiệu, là slogan cũng cần phải thay đổi phù hợp với yêu cầu của từng thị trường ở từng thời điểm. Việc thay đổi cũng phụ thuộc vào tính chất của từng loại sản phẩm và hình thức kinh doanh của chính doanh nghiệp đó. “Một slogan của một công ty có thể thay đổi theo thời gian nào đó nhưng nó không thể thay đổi theo từng quốc gia hay từng đơn vị nhỏ lẻ, nó phải mang tính thị trường và tính toàn cầu của nó”, ông Long nhận xét.

Điển hình là Furama resort. Do đặc thù là kinh doanh dịch vụ nên slogan được thay đổi theo từng thời điểm để phù hợp với từng thời kỳ kinh doanh của Khu nghỉ dưỡng. Ông Sean Halliday cho biết trước kia khi Furama Resort là khu nghỉ mát 5 sao đầu tiên ở miền Trung thì slogan là “Furama – Vietnam’s truly beach resort”, tạm dịch là “Furama – Khu du lịch biển thực sự”.

Nhưng khi vào hè, Furama thay đổi thông điệp là “Summer In Style “5- Star Plus” (được gọi là “Phong cách hè 5 sao”). Đến cuối năm 2005, khi bãi biển Furama resort được bình chọn là một trong 6 bờ biển đẹp nhất thế giới, thì slogan của Furama resort là “Best Beach Break on the Best Beach of the World”, (tạm dịch là “Tận hưởng cuộc sống trên bãi biển đẹp nhất hành tinh”).

Tuy nhiên, với những tập đoàn hay công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo những sản phẩm có tính kỹ thuật cao thì việc thay đổi không phải lúc nào cũng đơn giản.

Theo ông Lê Minh Thắng, Giám đốc quan hệ đối tác kinh doanh của Lenovo Việt Nam thì slogan của những hãng này thường đi kèm trên dòng sản phẩm và mang tính làm thương hiệu nhiều hơn là mang tính gây ấn tượng cho khách hàng. “Vì mọi slogan đều phản ánh chiến lược riêng của mỗi hãng. Đặc biệt là đối với những tập đoàn hay công ty lớn thì việc thay đổi slogan là thay đổi trên bình diện toàn cầu nên chi phí rất lớn”, ông Thắng cho biết.

Cụ thể, với Lenovo, việc xây dựng slogan dựa trên phản ứng của thị trường chứ không đưa ra thời hạn bao lâu để có được slogan. Sau khi sản phẩm đã được đưa ra thị trường, kết hợp với công ty nghiên cứu thị trường thăm dò phản ứng của khách hàng về dòng sản phẩm đó rồi mới đưa ra slogan phù hợp.

Theo ông Martin Roll, chi phí để tạo ra slogan do công ty tự xác định cũng như phụ thuộc vào chi phí mà công ty thiết kế, sáng tạo ra nó đưa ra. Ông lấy ví dụ khi slogan của hãng giầy Nike (Mỹ) là “Just do it” (tạm dịch là “Hãy làm điều đó”) được tạo ra, nó hầu như chẳng tốn kém gì. “Thế nhưng ngày nay, slogan này là một trong những slogan được nhận biết nhiều nhất trên thế giới”, ông Martin Roll cho biết.

Một số doanh nghiệp, công ty thuê các công ty quảng cáo sáng tạo ra slogan cho mình trong khi một số khác lại tự “chế” ra nó. Ví như Furama resort, ông Sean Halliday cho biết là Khu nghỉ dưỡng đã tự mình làm tất cả các slogan thay vì phải thuê người ngoài làm.

Với Eurowindow, ông Hồng cho biết chi phí xây dựng slogan “Cửa sổ nhìn ra thế giới” không phải là quá lớn nhưng để duy trì slogan hiệu quả trong tâm trí người tiêu dùng thì công ty phải chấp nhận đầu tư rất lớn về tiền bạc, chất xám trong một thời gian dài.

( Theo Doanh nghiệp và Thương hiệu )